Những vụ cướp liều lĩnh nhất trong lịch sử các nước

học hỏi những đều mới lạ về thế giới xung quanh,nâng cao trình độ phá án và rèn luyện IQ của bạn tốt hơn

573 Số bài - 84%
42 Số bài - 6%
27 Số bài - 4%
24 Số bài - 4%
10 Số bài - 1%
3 Số bài - 0%
1 Bài gửi - 0%
1 Bài gửi - 0%
[b]
Bài gửiNgười gửiThời gian
Kỷ niệm 6 năm thành lập 4rum Sun May 22, 2016 4:34 pm
thông báo cách chức Mon Sep 10, 2012 7:33 pm
nhug bi mat ve gioi tinh Mon Sep 10, 2012 7:24 pm
tái lập 4rum theo định hướng mới Mon Sep 10, 2012 7:19 pm
ben le phim !THAN THOAI LINH CHAU!! Thu Oct 06, 2011 8:54 pm
tro ve noi cuoi cung cua dat nuoc Thu Oct 06, 2011 8:51 pm
tro ve mien nuoc Thu Oct 06, 2011 8:49 pm
làm khung tài sản Tue Sep 27, 2011 9:29 pm
tuyển design cho học viện mới chúng ta CYM Sun Aug 14, 2011 8:20 pm
happy birthday 4r Wed Jul 13, 2011 12:34 pm
Nghĩa địa người ngoài hành tinh ở châu Phi Tue Jul 12, 2011 8:36 pm
khuyến khích mời thành viên Sun Jul 10, 2011 3:21 pm
thú nuôi đây.... Sat Jul 09, 2011 8:42 am
[Giao lưu]Kết bạn cùng Shinichi&Ran fc ^^ Thu Jul 07, 2011 9:35 am
cái chết của ph0ng viên Tue Jul 05, 2011 10:04 pm


You are not connected. Please login or register

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM



<BLOCKQUOTE class="postcontent restore">Ngày 25/2/2005, hai gã đàn ông mặc đồ công nhân lái chiếc xe của KLM đột nhập vào sân bay Schol ở Amsterdam. Bọn chúng chặn chiếc xe tải chở kim cương đang trên đường đến chiếc máy bay Tulip Air sắp bay đi Antwerp, dùng súng ngắn khống chế hai tài xế xe tải, rồi ung dung lái chiếc xe đi. Theo ước tính, trị giá số kim cương khoảng 75 triệu euro, và nếu đúng như thế thì đây là vụ cướp kim cương quy mô chưa từng có.


Vụ cướp Ngân hàng miền Bắc Belfast, Anh



Ngày 19/12/2004, một nhóm đàn ông giả trang cảnh sát đồng loạt đột nhập vào nhà của hai viên chức ngân hàng miền Bắc Belfast là Chris Ward ở Poleglass và Kevin McMullen ở Loughin Island, bắt cóc họ và gia đình. Sau đó bọn chúng ra lệnh cho McMullen và Ward phải làm theo chỉ dẫn của chúng. Ngày hôm sau, hai viên chức ngân hàng làm việc bình thường như không có chuyện gì xảy ra. Đến cuối ngày, sau khi mọi người ra về hết, McMullen và Ward mở cửa cho bọn cướp đột nhập vào ngân hàng, vơ vét tất cả tiền mặt và ngân phiếu. Số tiền bị cướp lên đến 50 triệu USD, và vụ cướp liều lĩnh này được coi là lớn nhất trong lịch sử nước Anh.

6 giờ sau khi ngân hàng bị cướp, cảnh sát mới nhận được hung tin. Một cuộc điều tra lập tức được tiến hành. Người ta cho rằng IRA dính líu đến vụ cướp liều lĩnh này, vì tổ chức này nổi tiếng với nhiều vụ cướp ngân hàng trong quá khứ. Tuy nhiên, IRA đã bác bỏ sự buộc tội này. Tháng 2/2005, 7 kẻ tình nghi (kể cả một thành viên của đảng Sinn Fein liên kết với IRA) bị bắt giữ trong các cuộc bố ráp nhằm vào các chiến dịch rửa tiền của IRA trên khắp lãnh thổ Cộng hòa Ireland. Hơn 3 triệu USD được tịch thu trong chiến dịch. Người ta nghi ngờ số tiền này được đánh cắp ở Ngân hàng miền Bắc Belfast, nhưng lúc đó cảnh sát chưa xác định được điều này.

Vụ cướp Trung tâm kim cương Antwerp, Bỉ

Ngày 16/2/2003, vụ cướp Trung tâm kim cương Antwerp nổi tiếng của Bỉ được coi là một trong các vụ cướp lớn nhất tại quốc gia này. Bọn cướp đã lấy đi số viên ngọc trị giá 100 triệu USD cùng các giấy tờ liên quan đến đá quý. Điều lạ lùng là cho đến ngày hôm sau người ta mới hay tin về vụ cướp.

Các nhà điều tra nhận thấy ngay là cửa vào trung tâm không hề bị cạy phá. Sau khi khám nghiệm hiện trường, các nhà điều tra nhận định thủ phạm vụ cướp là người làm việc trong trung tâm. Chỉ có những người đã quen với hệ thống an ninh công nghệ cao và mạng lưới cảnh giới 24/24 giờ quanh các kho hàng mới có thể ra tay một cách dễ dàng và êm xuôi như thế.

Theo linh cảm nghề nghiệp, các nhà điều tra đã có cuộc nói chuyện riêng với Ban lãnh đạo trung tâm, cũng như chủ sở hữu của các két sắt. Những cuộc tiếp xúc riêng đó cung cấp chút ít thông tin về danh tính bọn tội phạm, đồng thời thúc đẩy các nhà điều tra tìm kiếm manh mối ở một nơi khác. Và họ chẳng phải tìm đâu xa. Chưa đầy 2 tuần sau vụ án, cảnh sát tìm thấy một dấu vết mà họ tin là liên quan đến vụ cướp. Họ tìm thấy những cái túi bị vứt bỏ trong một con rãnh cạnh con đường chính bên ngoài Antwerp, trong đó đựng mẩu bánh sandwich ăn dở, các cuộn băng camera an ninh và một số giấy tờ. Cảnh sát nhận định các băng hình và giấy tờ này xuất phát từ vụ cướp.

Sau khi xét nghiệm ADN mẩu bánh sandwich ăn dở, cảnh sát lần ra dấu vết một người tên là Leonardo Notarbartolo, 51 tuổi, một nhà buôn kim cương thuê một không gian trong Trung tâm kim cương Antwerp và từng có vài dịp lui tới các kho hàng. Mặc dù không dính líu trực tiếp đến vụ cướp, song cảnh sát tin rằng ông ta là một thành viên của băng cướp. Notarbartolo và người vợ Hà Lan của ông ta, Adriana Crudo, 48 tuổi, bị bắt giữ sau đó. Nhưng trước tòa án, cả hai vợ chồng đều một mực phủ nhận tội liên quan đến vụ cướp.

Một số người mang quốc tịch Italia, bao gồm Ferdinando Finotto, Elio D'Onorio, Pietro Tavano và Antonio Falleti, cũng bị buộc tội liên quan đến vụ cướp. Dựa vào các bằng chứng và nhân chứng, các nhà điều tra có thể hình dung được cách thức bọn cướp đột nhập vào các kho hàng ngầm mà không bị phát hiện. Bọn cướp biết cách vô hiệu hóa hệ thống báo động và đã sao chép các chìa khóa chính sau khi thuê một văn phòng trong Trung tâm dưới tên một công ty ma.

Không một viên kim cương nào được tìm thấy lại sau đó, có lẽ chúng đã được bán hoặc chôn giấu ở đâu đó. Phiên tòa xét xử đã tuyên án 10 năm tù và 10.000 euro tiền phạt đối với Notarbartolo. Đồng thời, các tên Ferdinando Finotto, Elio D'Onorio và Pietro Tavano cũng lãnh mức án 5 năm tù và số tiền phạt 5.000 euro cho mỗi tên. Còn Falleti và Crudo không bị kết án vì thiếu chứng cứ buộc tội.


Vụ cướp sân bay ở Amsterdam, Hà Lan

Ngày 25/2/2005, hai gã đàn ông mặc đồ công nhân lái chiếc xe của KLM mà chúng đánh cắp được đột nhập vào sân bay Schol ở Amsterdam. Bọn chúng táo tợn chặn chiếc xe tải chở số kim cương trị giá đến nhiều triệu USD đang trên đường đến chiếc máy bay Tulip Air sắp bay đi Antwerp. Bọn cướp dùng súng ngắn bắt hai tài xế xe tải nằm áp xuống đất, rồi sau đó ung dung lái chiếc xe tải đi với số tài sản vừa cướp được. Theo ước tính, trị giá số kim cương vào khoảng 75 triệu euro, và nếu đúng như thế thì đây là vụ cướp kim cương quy mô chưa từng có.

Qua điều tra, cảnh sát nhận định có sự tiếp tay từ nội bộ. Bọn cướp đã biết trước là nên “ra tay” vào giờ nào và với chiếc xe tải nào trong ngày thứ sáu! Hơn thế nữa, chúng có thể xâm nhập vùng kho hàng an ninh, một nơi yêu cầu phải có thẻ ra vào đặc biệt. Sau này, người ta phát hiện chiếc xe tải bị cướp trong một khu kỹ nghệ ở Hoofdorp, một thị trấn không xa sân bay lắm. Các nhân chứng đã nhìn thấy hai tên cướp đưa xe tải vào bãi rồi bước vào chiếc Renault màu đỏ đang chờ sẵn do tên thứ ba cầm lái. Và đến lượt chiếc Renault - bị cướp ở Amsterdam trước hôm xảy ra vụ cướp ở sân bay vài ngày - được phát hiện bị đốt cháy vào một tháng sau đó ở thị trấn Dieman.


Vụ cướp cổ vật quy mô nhất ở Hy Lạp

Sáng sớm ngày 12/4/1990, 4 tên cướp đột nhập Nhà Bảo tàng Corinth của Hy Lạp, nơi bảo tồn các cổ vật vô cùng quý giá. Bọn chúng đã lấy đi 285 món đồ giá trị khoảng 2 triệu USD, cũng như số tiền khoảng 3.000 USD trước khi chuồn đi. Trong số tài sản nghệ thuật bị đánh cắp, có các cổ vật thuộc nghệ thuật Corinth được khai quật năm 1866; một tượng đầu tráng niên bằng đá hoa ở vào thế kỷ thứ V và 14 tượng đá hoa khác; thêm 40 chiếc bình cổ Athen màu đen, 85 chiếc bình Corinth và 49 tiểu tượng bằng đất nung, cũng như các cổ vật nghệ thuật quý giá khác.

Vụ cướp táo tợn này được coi là vụ cướp cổ vật lớn nhất trong lịch sử Hy Lạp. Bước đầu, cảnh sát cho phân phát ảnh chụp các cổ vật bị đánh cướp, báo động cho các sân bay, các tòa đại sứ, lãnh sự quán và các cơ quan cảnh sát khác.

Nơi cất giấu các cổ vật cướp được nằm yên trong bí mật suốt 9 năm. Đến tháng 9/1999, một thông tin đã dẫn dắt các nhà điều tra tìm đến một nhà kho ở Miami (bang Florida) và phát hiện 12 thùng giấy đựng các cổ vật nằm lẫn lộn trong đám thùng chứa cá. Tổng cộng, 174 trong số 285 cổ vật được tìm thấy. Khám phá này đã đem đến sự phấn khởi cho đất nước Hy Lạp và thế giới nghệ thuật!

FBI cho biết chủ sở hữu của bộ sưu tập này là bà Wilma Sabala. Được biết bộ sưu tập cổ vật này đang chuẩn bị chuyển đến Nhà đấu giá Christie ở New York. Mặc dù một số món đồ đã bị bán đấu giá, nhưng nhìn chung thì phần lớn cổ vật đều được thu hồi. Tuy nhiên khoảng 7 món đồ trong bộ sưu tập vẫn còn mất tích
</BLOCKQUOTE>


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
những vụ mất tích kỳ lạ nhất trong lịch sử


<BLOCKQUOTE class="postcontent restore">1. Oliver Larch
Câu chuyện về người đàn ông tên Oliver Larch diễn ra vào thế kỷ 19 ở phía bắc xứ Wales (Anh). Larch đang trên đường đi lấy nước ở một cái giếng vào mùa đông thì bất ngờ biến mất, anh chẳng để lại dấu vết nào trừ vệt dấu chân trên tuyết kết thúc đột ngột và một loạt tiếng kêu cứu từ trên trời vọng xuống.


2. Những người gác hải đăng trên quần đảo Flannan (Scotland)











Vào tháng 12/1900, 3 người gác hải đăng đã biến mất khỏi vị trí làm nhiệm vụ, để lại những vật dụng quan trọng giúp họ sống sót trong điều kiện khắc nghiệt trên đảo và quãng thời gian lạnh giá của năm. Dù đã thực hiện những cuộc tìm kiếm trên quy mô lớn, nhưng người ta vẫn chẳng thấy tăm tích của 3 người đâu. Lời giải thích chính thức cho sự biến mất này là những người đàn ông đã bị một cơn sóng kỳ lạ cuốn ra biển.

3. “Bộ ba” Bennington
Trong khoảng thời gian từ 1920-1950, thị trấn Bennington thuộc bang Vermont (Mỹ) là nơi nổi tiếng với những vụ mất tích bí hiểm không thể giải thích nổi.
Tetford là một cựu binh đang sống tại Trung tâm chăm sóc cựu chiến binh ở Bennington. Vào ngày 1/12/1949, ông đã “bốc hơi” khỏi một chiếc xe buýt đông đúc khi đang trên đường trở về nhà sau chuyến đi đến thị trấn St. Albans. Khi ấy, trên xe có 14 hành khách khác và họ đều khẳng định nhìn thấy Tetford đang ngủ trên ghế của mình. Khi xe buýt tới địa điểm, Tetford đã biến mất, dù túi sách của ông vẫn ở trên giá để hành lý và tờ lịch trình xe buýt nằm trên chiếc ghế trống. Từ đó, không ai nhìn thấy Tetford nữa.

Vào 1/12/1946, cô nữ sinh 18 tuổi Paula Welden đã biến mất trong lúc đang đi dạo dọc đường mòn Long Trail xuyên vào ngọn núi Glastenbury. Một đôi vợ chồng trung niên chạy tản bộ đã nhìn thấy Welden ở phía trước cách chừng 900 m. Hai người bỗng nhiên không thấy Welden nữa khi cô đi vào con đường quanh một phiến đá to, khi họ đi vòng quanh phiến đá để tìm hiểu thì cô gái đã mất dạng hoàn toàn. Từ đó chẳng ai nhìn thấy hay nghe đến Welden nữa.
Vào giữa tháng 10/1950, bé trai 8 tuổi Paul Jepson biến mất khỏi một trang trại. Mẹ Paul kiếm sống bằng nghề trông vật nuôi thuê, cho biết cô đã để đứa con nhỏ vui chơi gần chuồng lợn trong lúc cô đang chăm sóc mấy con vật. Chỉ trong chốc lát, cô quay lại và chẳng thấy Paul đâu. Cảnh sát đã mở một cuộc tìm kiếm rộng rãi nhưng chẳng đem lại kết quả.

4. Owen Parfitt

Owen Parfitt bị liệt do một cơn đột quỵ nghiêm trọng. Vào tháng 6/1763, theo thói quen vào những buổi chiều tối ấm áp, Parfitt ngồi bên ngoài căn nhà của chị gái tại thị trấn Shepton Mallet (Anh). Người đàn ông 60 tuổi ngồi lặng lẽ đến nỗi người đi đường cảm nhận anh hầu như chẳng nhúc nhích. Phía bên kia đường, các công nhân của một trang trại đang chất các đống cỏ khô để hoàn tất ngày làm việc.

Khoảng 7 giờ tối, Susannah - chị gái Parfitt ra ngoài hè cùng một người hàng xóm để giúp Parfitt vào trong nhà, vì có một cơn bão sắp sửa ập đến. Nhưng Parfitt đã “đi rồi”, chỉ còn lại duy nhất chiếc áo khoác được gập vuông vắn làm đệm để Parfitt ngồi lên. Các cuộc điều tra vụ mất kỳ lạ này được thực hiện cho đến tận cuối năm 1933, tuy vậy, không hề có dấu tích hay đầu mối tiết lộ số phận của Parfitt.

5. Nhà ngoại giao Anh









Nhà ngoại giao người Anh Benjamin Bathurst đã biến mất năm 1809. Cùng với một người bạn, Bathurst đang trên đường trở về thành phố Hamburg (Đức) sau chuyến đi đến một tòa án của Áo. Trên đường đi, họ ghé vào một quán trọ để ăn tối ở thị trấn Perelberg.

Vừa ăn tối xong, họ quay trở lại chiếc xe ngựa đang đứng chờ. Bạn Bathurst nhìn thấy nhà ngoại giao bước lên phía trước để kiểm tra những con ngựa và biến mất mà chẳng để lại bất kỳ một dấu vết nào.
6. Ngôi làng của người Eskimo

Vào tháng 11/1930, Joe Labelle, một người chuyên đi bẫy thú lấy lông đi bộ đến một ngôi làng Eskimo nằm cạnh hồ Anjikuni ở phía bắc Canada. Là “khách quen” thường lui tới, Labelle biết rằng đây là một làng chài khấm khá với hơn 2.000 dân. ]
Khi tới nơi, Labelle sững sờ bởi ngôi làng không hề có một bóng người. Các túp lều và kho chứa đồ bị bỏ hoang, Labelle thấy một nồi thịt hầm đen trên chiếc bếp đang cháy âm ỉ. Ngay lập tức anh báo cho chính quyền địa phương
Cuộc điều tra đã đem lại những phát hiện khó tin nổi: không hề có dấu chân của một người dân nào, nếu họ rời đi nơi khác thì chắc chắn phải có; tất cả các con chó kéo xe của người Eskimo bị chôn vùi dưới lớp tuyết dày 3,7 m và đã chết đói; còn thức ăn và lương thực dự trữ của người Eskimo không hề bị xáo trộn ở trong lều. Và có một phát hiện rùng rợn khác nữa là các ngôi mộ tổ của người Eskimo đều trống rỗng.
7. Bí ẩn tại quần thể đá chồng Stonehenge

Quần thể đá chồng bí ẩn Stonehenge (Anh) là nơi xảy ra một vụ mất tích kỳ lạ vào tháng 8/1971. Thời đó, người ta vẫn để khách tham quan tự do ra vào Stonehenge. Vào một đêm nọ, có một nhóm thanh niên lập dị quyết định cắm trại ở giữa chồng đá để chơi qua đêm. Họ nhóm lửa, châm vài liều ma túy và ngồi hút.
Khoảng 2 giờ sáng, cuộc vui bị ngắt quãng bởi tiếng sấm sét vang trời của một cơn bão đang đổ bộ vào khu vực Salisbury Plain. Những tia chớp sáng chói xuất hiện, đánh xuống cây cối và những hòn đá đứng sừng sững. Hai nhân chứng, một cảnh sát và một nông dân, cho biết những hòn đá bừng sáng với màu xanh kỳ lạ tỏa ra rất mạnh đến nỗi họ phải ngoảnh mặt đi.

Sau đó, họ nghe thấy những tiếng kêu la. Trên đường chạy đến chỗ xảy ra sự việc, họ nghĩ rằng sẽ thấy những người bị thương hay có thể đã chết. Nhưng trước sự ngạc nhiên đến tột cùng, họ không hề thấy ai, những gì còn lại là vài cái chân cột lều đang cháy âm ỉ và tro tàn của lửa trại. Những thanh niên lập dị đã không cánh mà bay8. Đường hầm thời gian
Vào năm 1975, một người đàn ông có tên Jackson Wright lái xe cùng vợ đi từ New Jersey đến thành phố New York. Họ phải đi qua đường hầm Lincoln, trong lúc đang lái xe, Wright tấp xe vào lề đường để lau hơi nước trên kính chắn gió. Vợ anh tình nguyện chạy lại phía sau lau kính hậu để khẩn trương tiếp tục lên đường.[Khi Wright quay lại nhìn, vợ anh đã biến mất dù anh không hề nghe hay nhìn thấy điều gì không bình thường diễn ra. Cảnh sát đã mở một cuộc điều tra sau đó nhưng chẳng thu được một bằng chứng hay dấu vết nào, Martha Wright đã “bốc khói” hoàn toàn.[/size][/size]
9. Trung đoàn Norfolk
[size=9][size=9]3 người lính kể rằng họ đã chứng kiến sự biến mất kì lạ của cả một tiểu đoàn vào năm 1915. Cuối cùng thì họ cũng quyết định tiết lộ câu chuyện khó hiểu 50 năm sau chiến dịch Gallipoli hổ thẹn trong thế chiến thứ 2. Ba thành viên thuộc một đại đội của New Zealand nói rằng họ quan sát từ một vị trí rất rõ khi một tiểu đoàn của Trung đoàn Hoàng Gia Norfolk hành quân lên sườn đồi ở vịnh Suvla, Thổ Nhĩ Kỳ.
Ngọn đồi được bao phủ bởi một đám mây thấp, nhưng những người lính Anh vẫn thẳng tiến mà không hề do dự. Và họ không bao giờ đi ra. Sau khi người cuối cùng của tiểu đoàn đi vào đám mây, nó dần dần “cất cánh” khỏi sườn đồi và gia nhập các đám mây khác trên bầu trời.
Khi chiến tranh kết thúc, cho rằng tiểu đoàn này đã bị bắt và giữ làm tù binh, chính phủ Anh yêu cầu Thổ Nhĩ Kỳ trả tự do cho họ. Tuy nhiên, người Thổ lại khẳng định rằng họ chưa bao giờ bắt giữ hay liên lạc với những người lính Anh này.
10. David Lang

Vụ mất tích nổi tiếng diễn ra vào tháng 8/1880 tại một trang trại gần thành phố Gallatin, bang Tennessee (Mỹ) trước sự chứng kiến từ đầu chí cuối của vài nhân chứng. Hai đứa trẻ George và Sarah đang chơi trước sân trong khi bố mẹ chúng, Emma và David Lang, đứng trước cửa nhà.
David băng qua bãi cỏ tiến về phía mấy con ngựa. Cùng lúc đó, một chiếc xe độc mã của thẩm phán August Peck - một người bạn của gia đình Lang - đang chạy tới gần. Thấy vậy, David quay lại nhìn chiếc xe và vẫy vị thẩm phán khi anh băng qua bãi cỏ để quay trở lại. Một vài giây sau, trước sự chứng kiến của vợ, các con và vị thẩm phán, David Lang đã biến mất vào hư không. Emma đã hét lên và tất cả nhân chứng cùng chạy tới nơi David đã đứng, họ nghĩ rằng chỗ đó có một cái hố và David đã rơi xuống, nhưng hoàn toàn chẳng có cái hố nào. [/size][/size]
Một cuộc tìm kiếm kỹ lưỡng do bạn bè, gia đình và hàng xóm của David thực hiện chẳng thu lại kết quả. Một vài tháng sau vụ mất tích bí hiểm, hai đứa trẻ nhà Lang để ý thấy cỏ nơi cha chúng biến mất chuyển sang màu vàng và héo đi trong phạm vi đường kính khoảng 4,7 m. </BLOCKQUOTE>



Được sửa bởi kid ngày Mon Jul 26, 2010 12:33 pm; sửa lần 1.


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Những kẻ giết ng hung bạo nhất lịch sử


<BLOCKQUOTE class="postcontent restore">Những Vụ Án Mạng Độc Ác Nhất Lịch Sử

Trong suốt 15 tháng qua, Katherine Mary Knight - một phụ nữ can tội giết chết người yêu và rồi chặt từng khúc để ăn dần - đã sống trong một xà lim riêng biệt với niềm hy vọng duy nhất: một ngày nào đó, dù là trong một tương lai rất xa, khi trong những năm hoàng hôn của cuộc đời và mái tóc mầu hung đỏ đã trở thành muối tiêu, bà ta sẽ thoát khỏi chế độ tù rất nghiêm ngặt dành cho một kẻ giết người nổi tiếng bị giam bên trong các bức tường của nhà tù Mulawa Women's Correctional Centre ở Sydney. Trong khi đó gia đình của nạn nhân, John Price, lại có một ước muốn khác: Katherine Mary Knight sẽ chẳng bao giờ hưởng được bầu không khí tự do bên ngoài các bức tường cao 3 thước được rào kẽm gai của nhà tù.
Người nữ tù 47 tuổi này mỗi ngày trải qua các sinh hoạt rất chặt chẽ bắt đầu từ 7 giờ sáng và chấm dứt vào lúc 7 giờ 30 giờ tối. Cùng với tất cả mọi tù nhân khác trong nhà tù Mulawa, Knight phải trình diện điểm danh ba lần một ngày. Mỗi ngày bà ta đi bộ nhiều tiếng đồng hồ bên trong các bức tường của căn xà lim chật hẹp, như thể một con cọp đi lòng vòng bên trong cũi sắt. Bà ta được giao cho công việc lau chùi phòng làm việc của viên giám đốc nhà tù và học lớp dạy thủ công. Giờ đây cuộc đời của nữ tù nhân giết người này bị kiềm chế trong một chiếc thùng phuy với chiếc nắp đóng kín.
Trong nhà tù, một phút dài như một tiếng, một ngày như thể một tháng và một tháng dài như cả một năm. Nhà tù là nơi chốn của sự buồn chán, sự cô đơn cùng cực và cách cư xử hung bạo; là nơi thường xuyên xảy ra cảnh lục soát thân thể, thức ăn tồi tệ, đi quanh quẩn bên trong các bức tường bê tông cốt sắt. Các đặc ân mà mọi người bên ngoài đương nhiên được hưởng như quyền tự do, hoàn cảnh thuận lợi, một cái ôm từ người yêu thương- không hề hiện hữu trong nhà tù. Tất cả các tù nhân đều trải qua cảnh sống rất khắc nghiệt, càng nổi tiếng xấu bao nhiêu càng bị đầy đọa bấy nhiêu.
Dù họ là những kẻ ấu dâm, giết trẻ em, lừa đảo, giết người liền tay, các tù nhân khét tiếng của Úc sống cuộc đời bên trong các bức tường nhà tù cũng khác như họ đã sống ở ngoài đời trước đây. Họ không có sự chọn lựa nào cả, phải chấp hành các điều lệ của nhà tù, nhưng vì đặc tính tội ác và nhân cách kỳ quặc của họ, mỗi tù nhân đều trải qua một địa ngục do chính họ tạo ra.
Các tù nhân khét tiếng như tay giết người hàng loạt Martin Bryant ở Port Arthur thường xuyên bị tấn công bởi các tù nhân khác. Bryant, 35 tuổi, đã bị hành hung trí mạng hai lần, và lần mới nhất xảy ra trong tháng Sáu năm ngoái khi bị đánh đập và xịt thuốc tẩy vào mặt. Hắn đã toan tính tự sát bốn lần. Và một trong những tên giết chết cô Anita Cobby đã bị đánh trọng thương bởi các tù nhân khác.
Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã nghe nói đến cảnh sống trong tù của Pauline Hanson từ thủ tục lục soát khắp thân thể đến các bộ quần áo tù màu xám rộng thùng thình, chiếc giường bằng ván gỗ ép, xà lim riêng biệt và "pocket money" $50 một tuần. Trong khi cựu lãnh tụ đảng One Nation than khóc về viễn ảnh ba năm trong nhà tù Brisbane Women's Prison tại Walco, thật sự thì so sánh với nhiều tù nhân khác thời gian ba tháng "ủ tờ" của bà ta quá ngắn, không bằng thời gian "gãi ghẻ" của họ.
Chẳng hề có tí đặc ân nào đối với những tù nhân mà tên tuổi của họ đồng nghĩa với sự độc ác, các hành động khiếp sợ của họ sẽ ám ảnh thường trực giấc mơ của cộng đồng dân chúng. Sát thủ giết chết các du khách ba-lô Ivan Millat, những tên giết chết cô Anita Cobby, kẻ chuyên giết các bà cụ già John Glover, kẻ ấu dâm Robert Doly Dunn, và cựu nhân viên mổ heo Katherine Knight là những kẻ luôn tạo ra ác mộng cho công chúng và những người canh giữ họ.

ÁC PHỤ BLACK WIDOW

Knight đã làm thịt người yêu, John Price, sau khi bị hắt hủi trong tháng Hai năm 2000. Người đàn bà được miêu tả là Black Widow này đã đâm ông Price hàng chục nhát dao, lột da và rồi nấu nhiều bộ phận trong cơ thể, bầy chúng lên các chiếc đĩa với ý định mời các đứa con của nạn nhân đến ăn tối. Các cảnh sát có mặt tại hiện trường phạm tội cho tới nay vẫn còn được cố vấn tâm thần. Trong năm 2001, Knight, một cư dân ở tỉnh Hunter Valley, đã trở thành phụ nữ đầu tiên của Úc bị xử án chung thân không ân xá. Thế nhưng thật lạ lùng, ác phụ này được xem là nhân vật quan trọng (VIP) bởi một số không ít các tù nhân trong nhà tù nữ Mulawa.
Bà Sandra Lee, tác giả cuốn sách Beyond Bad ghi rõ các sự kiện của vụ giết người rùng rợn này, nhận định rằng: Nhiều tù nhân nghĩ bà ta là một người hùng bởi vì đã làm điều mà họ có thể rất muốn làm [đối với những người đàn ông cư xử bất công với họ]. Tuy vậy các tù nhân giữ một khoảng cách kính trọng, bởi họ lo ngại tiếp xúc với mặt trái của bà ta. Knight là một phụ nữ lớn con, rất dễ nổi cơn thịnh nộ và có một tiềm năng bạo lực và trả thù rất lớn. Bà ta được phép làm công việc hàng ngày, nhưng tôi không nghĩ bà ấy được nhận vào làm việc trong nhà bếp.
Các tù nhân khác được đối xử cực kỳ thận trọng gồm 5 tên can dự vụ hãm hiếp dã man và giết chết cô Anita Cobby, người y tá 26 tuổi ở Sydney, trong năm 1986. John Travers, Michael và Leslie Murdoch, Michael và Gary Murphy sống như những người hạ đẳng, bị tách riêng ra, và thường xuyên bị chuyển từ nhà tù này sang nhà tù khác. Mặc dù họ bị giam trong một nhà tù an ninh nghiêm ngặt nhất, các tù nhân khác đã làm cuộc sống của năm kẻ này cực kỳ khó chịu. Năm tên sát nhân này đã bị miêu tả là "những con dã thú hiểm độc". Chúng bị nhổ nước bọt vào mặt, đồ đạc bị đập nát và thức ăn bị đái vào. Travers và Les Murphy đã bị đánh đập đến bất tỉnh, và Gary Murphy đã bị rạch bằng dao cạo. Michael Murphy bị chấn thương cột xương sống trong một vụ hành hung.
Travers và Les Murphy nằm trong một nhóm gồm 11 tù nhân đã âm mưu một cuộc vượt ngục từ nhà tù Goulburn Jail trong tháng Tám năm 1993. Chúng hoạch định giết chết các cai tù và khách thăm tù, mặc quần áo của khách thăm tù và tẩu thoát bằng các chiếc xe của những kẻ đồng lõa đậu phía ngoài, tuy nhiên kế hoạch của chúng đã bị phá vỡ khi cảnh sát được mật báo.
UŒy viên Bộ Cải huấn NSW Ron Woodham nói rằng: "Điều đáng sợ nhất của âm mưu vượt ngục này là mưu trí hết sức tàn nhẫn." Trong năm 1996, Travers bị buộc tội toan tính vượt ngục từ một chiếc xe van của nhà tù bằng cách cắt ổ khóa bằng một lưỡi cưa sắt. Luật sư bào chữa khẳng định anh ta "chỉ đùa nghịch thôi" và rằng Travers đang bị trù dập bởi vì "ngoài Ivan Milat ra, anh ta là tù nhân nổi tiếng nhất trong hệ thống nhà tù".
Khi Travers được phép cho ra khỏi tù, dĩ nhiên bị xiềng xích, để dự các tang lễ của bà mẹ trong năm 1989 và người anh trong năm 1996, công chúng và giới truyền thông đã phản đối hết sức mạnh mẽ. Ông Garry Lynch, cha của cô Anita Cobby, sau này nói rằng: "Nếu biết được điều này xảy ra chắc tôi đã phải võ trang để tự vệ.

ÁC MẪU KATHLEEN FOLBIGG

Tương tự các kẻ đã giết chết cô Anita Cobby, tội ác của Kathleen Folbigg chắc chắn đã làm bà ta trở thành một tù nhân có nguy cơ cao nhất. Người nữ tù 35 tuổi này đã giết chết ba trong bốn đứa con còn rất nhỏ, và bị kết tội ngộ sát đứa thứ tư. Trong khoảng thời gian từ 1989 đến 1999, Folbigg đã giết chết bé Caleb, 20 tháng tuổi, Patrick, tám tháng tuổi, Sarah, 11 tháng tuổi và Laura, 19 tháng tuổi. Cảnh sát tin rằng bà ta đã làm nghẹt thở mỗi đứa trẻ, và rồi quả quyết chúng đã chết trên giường khi ngủ (cot death) hoặc bị giết chết bởi những nguyên nhân tự nhiên.
Để bảo vệ cho bà ta, nữ sát nhân liền tay tệ hại nhất lịch sử nước Úc đã bị giam 22 tiếng một ngày trong xà lim tại nhà tù Mulawa. Các cai ngục kiểm tra hai lần trong một tiếng, và mọi cử động của người tù này đều được quan sát bởi một máy thu hình. Folbigg bị trầm cảm rất nặng, và người ta cho rằng sự cách ly và là mục tiêu của sự thù ghét có thể đã khiến người phụ nữ trước đây rất thích tập thể dục và dự các buổi party trở nên điên loạn. Bà Lee Downes, giám đốc các nhà tù nữ ở NSW, nói rằng: "Folbigg sẽ mãi mãi bị tách ly. Tù nhân đó là người mà chúng tôi phải đối xử rất thận trọng."
Hiện có tổng cộng 300 tù nhân trong nhà tù Mulawa và Kathleen Folbigg tin tuởng 299 người thù ghét bà ta. Thám tử Bernie Ryan, người đã kiên trì điều tra và giúp kết tội Folbigg, nói rằng: "Tôi cảm thấy buồn cho bà ta....Đôi cũng cảm thấy có lỗi vì đã đưa bà ta vào đó, nhưng rồi tôi nghĩ bà ấy đã giết chết các đứa con." Trong tháng Mười năm ngoái, Folbigg đã bị kết án 40 năm tù, với thời gian ân xá là 30 năm, cho các tội ác tầy trời, nhưng bà ta vẫn một mực nói mình vô tội. Các bác sĩ tâm thần tin tưởng Folbigg sẽ không bao giờ nhận tội, và nếu có thú tội bà ta sẽ có nguy cơ tự sát rất cao.
Nếu giết chết trẻ sơ sinh là tội ác đáng khinh nhất trong các nhà tù phụ nữ, rồi thì tội ấu dâm cũng bị thù ghét không kém trong các nhà tù nam giới. Các kẻ ấu dâm có nguy cơ rất lớn bị tấn công bởi các tù nhân khác, chứng cớ hiển nhiên là vụ giết chết linh mục người Mỹ phạm tội ấu dâm, John Geoghan, trong một nhà tù ở Boston tháng Tám năm ngoái. Linh mục Geoghan, 68 tuổi, bị kết tội cưỡng dâm 130 cậu bé, và vụ án này đã làm rung chuyển Giáo hội Thiên chúa giáo. Ông ta bị giết chết trong tù bởi một tù nhân rất thù ghét đồng tính luyến ái.
ƠŒ Úc, những người phạm tội ấu dâm cũng có nguy cơ bị tấn công bởi các tù nhân khác. Tại nhà tù Long Bay ở Sydney, ban quản đốc đã nhốt riêng khoảng 200 kẻ phạm tội ấu dâm. Tù nhân nổi tiếng nhất là một cựu thầy giáo khoa học 62 tuổi, Robert "Dolly" Dunn, bị kết án 30 năm tù trong năm 2001 sau khi bị phát hiện phạm 24 tội tình dục đối với các bé trai một số em mới chỉ 7 tuổi- trong khoảng thời gian từ năm 1985 tới 1995. Dunn đã ép buộc các đứa bé bằng ma túy và tiền bạc, và đã quay video các cuộc cưỡng dâm này.
Chánh án Michael Finnance phán rằng Dunn là mối đe dọa đối với bất cứ cậu bé nào tuổi từ 7 tới 13, và đã đưa ra một bản án mà chắc chắn tù nhân này sẽ chết rũ trong tù. Ông Steve Barrett, một nhà văn chuyên viết về tội ác và là người đạo diễn chương trình 60 Minute, đã giúp bắt được Robert "Dolly" Dunn khi tìm ra được nơi trú ẩn của ông ta trong một khách sạn ở Honduras. Ông Barrett cho biết ngày nay Dolly đang rất ốm yếu, đã trải qua ba cơn suy tim. Kẻ một thời chuyên lợi dụng tình dục trẻ em giờ đây sống rất thầm lặng, cố tránh mọi rắc rối.

SÁT THU GRANNY KILLER

Tương tự Dolly, John Glover cũng bị buộc phải sống riêng biệt trong nhà tù giam giữ đủ mọi thành phần tội phạm này. Được đặt cho biệt danh Granny Killer, bởi vì ông ta đã giết chết sáu bà cụ lớn tuổi ở vùng North Shore, Sydney, trong khoảng thời gian từ 1989-90. Glover không phải là một tù nhân có cách đối xử gây rối, ông ta sống rất ngăn nắp, cẩn thận. Tuy vậy ban quản đốc nhà tù Lithgow, cách Sydney khoảng 140 cây số về hướng tây, để ý rất sát người tù nguy hiểm này.
Từng là một người vui thú đời sống gia đình và là một lãnh tụ cộng đồng ở Mosman, một vùng thuộc hải cảng Sydney, Glover bị khinh miệt không chỉ vì đã một cách hèn nhát giết chết các bà cụ già len lén đến sau lưng các nạn nhân không có khả năng tự vệ và giết chết họ bằng búa- nhưng cũng bởi ông ta là một kẻ khoác lác, luôn nghĩ mình tinh khôn hơn những người tù khác. Ông ta làm ra vẻ là người rất lịch sự, trang trí xà lim bằng các tấm khăn tắm mầu sặc sỡ, và có thời gian để râu mép rất kiểu cách. Dù đã 70 tuổi, ông ta tự miêu tả mình như một người hùng rất gan dạ. Glover quả quyết rằng sở dĩ bị buộc sống riêng biệt với các tù nhân khác bởi vì ban quản đốc lo sợ ông ta sẽ giết chết họ. Người vợ và các con cô con gái của ông ta đã chẳng bao giờ đến thăm.
Martin Bryant, một kẻ giết người hàng loạt tệ hại nhất nước Úc, cũng rất ít khi được thăm nuôi. Người mẹ của y, bà Carleen, đã ngưng thăm nuôi nửa tháng một lần cách đây ba năm theo lời yêu cầu của y. Chẳng một người nào khác đã đến thăm y. Bryant bị kết án tù chung thân sau khi bắn chết 35 người tại Port Arthur, Tasmania, ngày 28 tháng Tư năm 1996, và sẽ chẳng bao giờ được thả khỏi nhà tù Risdon Prison ở Hobart, nơi y bị giam trong một xà lim riêng biệt được thiết kế rất đặc biệt. Một cựu tù nhân mới được thả từ Risdon nói rằng: Nếu họ để Bryant sống chung với các tù nhân khác, hắn sẽ trở thành một xác chết trong vòng 15 phút. Bryant đã bắn chết nhiều trẻ em ở Port Arthur, và những kẻ giết hại trẻ em bị các tù nhân thù ghét.
Y đã toan tính tự sát 4 lần: uống thuốc an thần quá liều, tự làm nghẹt thở bằng băng vải, nuốt vào bụng cây bàn chải đánh răng, và gần đây nhất, trong tháng Mười Hai năm 2000, dùng dao cạo cắt đứt động mạch ở đùi. Bryant giờ đây đã 35 tuổi, nhưng có một năng lực hiểu biết chỉ ở mức 11 tuổi và một chỉ số thông minh là 66, dưới mức trung bình 100. Các tù nhân khác miêu tả y có cá tính "kỳ quặc", nói chuyện như con nít. Y được cho ra sinh hoạt chung với các tù nhân khác trong bệnh viện tù và chơi bóng bàn, dưới sự giám sát rất nghiêm ngặt.
Bất cứ ai đã nhìn thấy các tấm hình của Bryant trong thời gian xảy ra vụ thảm sát ở Port Arthur khuôn mặt bầu bĩnh, mái tóc dợn sóng mầu vàng nhạt và nụ cười ngớ ngẩn- có thể không nhận ra y ngày nay. Y vẫn có nụ cười ngớ ngẩn, như thể rất vui thích bởi các tiếng nói mà chỉ có y mới có thể nghe thấy, nhưng mái tóc ngắn mầu nâu rất dơ bẩn và mập thù lù như con hải cẩu, có lẽ y đã tăng trọng lượng thêm 30 ký.

HUNG THẦN IVAN MILAT

Bryant cam chịu sự thật rằng sẽ chẳng bao giờ được thả tự do từ căn xà lim trong tù. Không như tay sát thủ chuyên giết các du khách ba-lô Ivan Milat, người đã chẳng bao giờ nhận tội, cũng không từ bỏ niềm hy vọng rằng một ngày nào đó y sẽ được tự do, nếu không khỏi nhà tù thì ít nhất cũng được phép hội nhập với các tù nhân khác trong tù. Hắn cũng mơ ước vượt ngục. Milat, một cựu công nhân lục lộ, đã giết chết bẩy du khách ba-lô trẻ tuổi trong khoảng thời gian từ 1989 đến 1992, và chôn xác họ trong khu rừng Belanglo State Forest, NSW, các tội ác mà y phải trả giá bằng 7 án tù chung thân trong tháng Bẩy năm 1996.
Trong tháng Năm 1997, Milat đã cùng với trùm ma túy George Savvas toan tính vượt ngục từ nhà tù Maitland. Khi âm mưu này bị bại lộ, Savvas đã tự sát và Milat bị chuyển tới nhà tù Long Bay, và rồi sang Lithgow và, trong tháng Mười Hai năm 1998, tới nhà tù ghê sợ nhất Goulbourne Jail, nơi mà y bị giam cho tới nay. Milat đã có lần nói rằng "thà chết vì bị xử bắn còn hơn sống trong xà lim". Một nhân viên canh tù đã lo lắng nói rằng: "Milat rất lực lưỡng, có sức khỏe rất tốt. Chẳng ai nói là y không thể vượt ngục. Tù nhân này là một mối đe dọa thường trực.
Mối lo ngại của nhân viên canh tù này dường như được chứng minh là đúng. Trong tháng Mười năm 1999, một lưỡi cưa dài 10 cm được tìm thấy trong một túi bánh ngọt trong xà lim của Milat. Trong tháng Ba năm 2001, hắn nuốt các lưỡi dao cạo và một sợi dây xích sắt nhỏ vào bụng. Trong tháng Năm 2001, hắn nuốt một lò xo thép vào bụng và, trong tháng Tư năm ngoái, được khâu 24 mũi sau khi bị cánh cửa dập mạnh vào tay. Cảnh sát cho biết các vụ này là mánh khóe của Milat để được đưa vào bệnh viện điều trị, từ đó hắn có thể trốn thoát dễ dàng hơn.
Trong tháng Sáu năm 2001, Milat đã tuyệt thực 57 ngày để phản đối vì không được cho xử dụng các cuốn sách luật cập nhật và sống gần một tù nhân có chuyên môn cao về luật pháp. Hắn chỉ ngưng tuyệt thực sau khi Justice Action, một nhóm tranh đấu cho các tù nhân, thuyết phục giới chức nhà tù thay đổi ý định. Ông Brett Collins, phát ngôn nhân của nhóm Justice Action, khẳng định rằng "Milat có quyền tự bào chữa cho chính mình." Trong năm 2001, chẳng có sự ngạc nhiên nào khi Milat, 58 tuổi, là thân chủ đầu tiên của Super Max, nhà tù mới cất trị giá $42 triệu ở Goulbourne.
Hiện nay có khoảng 15 tù nhân được đánh giá là nguy hiểm nhất bị nhốt trong các "nhà tù trong một nhà tù", các xà lim 2m x 3m được xây cất đặc biệt để ngăn chặn hành động tự sát, không một nơi nào có thể giấu được vũ khí, chỉ có tấm nệm cao su chống cháy duy nhất được đặt trên nền xi-măng, và các ống kính thu hình quan sát 24/24 tiếng một ngày. Các tù nhân tối nguy hiểm này không thể nhìn thấy thế giới bên ngoài, và không khí điều hòa được bơm qua một lỗ thông hơi 20cm x 20cm.
Chẳng có công việc gì để làm và cũng không có các trò chơi giải trí. Và cứ 14 ngày một lần Milat được chuyển sang xà lim khác, dĩ nhiên bị xiềng xích khi đưa ra khỏi xà lim. Sinh hoạt thường ngày của hắn gồm bị đánh thức vào lúc 8 giờ sáng để ăn cốm ngũ cốc, sữa, bánh mì và mứt trái cây. Từ 8:30am tới 11:30am dự các lớp với cố vấn tâm lý và các bác sĩ tâm thần. Ăn trưa lúc 11:30am trong xà lim.
Đến giữa trưa, một ít tù nhân có được đặc ân chạy thể dục trong một sân xi-măng có tường kẽm gai bao quanh, và rồi vào lớp học tiếp từ 1pm tới 3:30pm. Bữa ăn tối vào lúc 3:30pm và đến 4:30pm, tất cả các tù nhân bị nhốt vào xà lim cho đến sáng. Các khách thăm nuôi bị kiểm tra rất nghiêm ngặt, các thủ tục quá gay gắt khiến họ không muốn trở lại nữa. Và các tù nhân bị rà soát thân thể trước và sau mỗi lần thăm viếng.
Ông Ken Marslew đã nhìn thấy bên trong rất nhiều nhà tù kể từ năm 1994, khi đứa con trai sinh viên đại học 18 tuổi của ông, Michael, bị bắn chết trong một vụ cướp có vũ khí tại một cửa tiệm Pizza Hut ở Jannali, Sydney. Khi Michael chết, ý nghĩ duy nhất của ông Ken là trả thù, nhưng không bao lâu sau ông nhận thấy sự báo thù "mắt trả bằng mắt" không mang trở lại đứa con yêu dấu của mình. Ngày nay ông thành lập tổ chức "Enough is Enough" để giúp những kẻ phạm tội chịu trách nhiệm cho các hành động của họ. Là chủ tịch của tổ chức này, ông sắp xếp các cuộc gặp mặt trong tù giữa những kẻ phạm tội và các nạn nhân.
Ông Ken tin tưởng 95 phần trăm các tù nhân có thể "cải tạo được", trong số này có 60% là những kẻ ngu xuẩn làm những điều xằng bậy, 35% là các tội phạm chuyên nghiệp. Năm phần trăm còn lại, như Ivan Milat, John Travers và John Glover là "những kẻ hoàn toàn độc ác và phải bị nhốt vĩnh viễn trong tù. </BLOCKQUOTE>


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

Sponsored content


CYM

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết