những vụ án nổi tiếng

học hỏi những đều mới lạ về thế giới xung quanh,nâng cao trình độ phá án và rèn luyện IQ của bạn tốt hơn

573 Số bài - 84%
42 Số bài - 6%
27 Số bài - 4%
24 Số bài - 4%
10 Số bài - 1%
3 Số bài - 0%
1 Bài gửi - 0%
1 Bài gửi - 0%
[b]
Bài gửiNgười gửiThời gian
Kỷ niệm 6 năm thành lập 4rum Sun May 22, 2016 4:34 pm
thông báo cách chức Mon Sep 10, 2012 7:33 pm
nhug bi mat ve gioi tinh Mon Sep 10, 2012 7:24 pm
tái lập 4rum theo định hướng mới Mon Sep 10, 2012 7:19 pm
ben le phim !THAN THOAI LINH CHAU!! Thu Oct 06, 2011 8:54 pm
tro ve noi cuoi cung cua dat nuoc Thu Oct 06, 2011 8:51 pm
tro ve mien nuoc Thu Oct 06, 2011 8:49 pm
làm khung tài sản Tue Sep 27, 2011 9:29 pm
tuyển design cho học viện mới chúng ta CYM Sun Aug 14, 2011 8:20 pm
happy birthday 4r Wed Jul 13, 2011 12:34 pm
Nghĩa địa người ngoài hành tinh ở châu Phi Tue Jul 12, 2011 8:36 pm
khuyến khích mời thành viên Sun Jul 10, 2011 3:21 pm
thú nuôi đây.... Sat Jul 09, 2011 8:42 am
[Giao lưu]Kết bạn cùng Shinichi&Ran fc ^^ Thu Jul 07, 2011 9:35 am
cái chết của ph0ng viên Tue Jul 05, 2011 10:04 pm


You are not connected. Please login or register

Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5  Next

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 5 trang]

1 những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:54 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Những vụ án nổi tiếng


Cầu Cổng Vàng – sát nhân bất đắc dĩ


1.200 người đã tìm đến cái chết trên cây cầu từng được bình chọn là một trong bảy kỳ quan của thế giới hiện đại. Cầu Cổng Vàng được biết đến với vẻ đẹp mê hồn và sự lãng mạn... đến dễ sợ do không có lan can.

Trên đây là con số thống kê số người nhảy cầu vào ban ngày, vào ban đêm số người chết vì nhảy cầu mất xác chắc chắn còn lớn hơn nhiều, trong đó có nhiều cuộc tự vẫn tập thể. Người dân sống gần đó ít nhất cũng có một lần trong đời được chứng kiến cảnh nhảy cầu tự vẫn.

Cầu Cổng Vàng (Golden Gate Bridge), thuộc thành phố San Francisco (Mỹ), được khánh thành vào năm 1937. Người đầu tiên mượn điểm nổi tiếng này để trẫm mình là cựu chiến binh Chiến tranh Thế giới I tên là H. Wobber. Ông tự vẫn lúc 47 tuổi, ngay sau khi cây cầu được khánh thành 3 tháng. Tham gia chiến trận bao nhiêu năm chẳng có tên tuổi, bỗng nhiên tìm đến cái chết bằng việc nhảy cầu đã khiến tên tuổi của cựu chiến binh này đi vào “huyền thoại”. Chuyện các nam thanh nữ tú, học sinh do thất tình hay bế tắc trong cuộc sống đến cầu Cổng Vàng tự vẫn là chuyện bình thường.

Người trẻ nhất chọn cầu Cổng Vàng tự vẫn là một cô bé 14 tuổi tên là Marrisa Rosa. Em đã bỏ học tới đây nhảy cầu tự vẫn từ độ cao 70 m. Điều tra cho thấy, Rosa đã từng tìm được một trang web dạy tự tử bằng cách nhảy cầu. Theo đó, muốn cầm chắc cái chết thì phải nhảy từ độ cao 75 m trở lên, hiệu nghiệm hơn cả uống thuốc độc.

Người cao tuổi nhất nhảy cầu tự vẫn là một cụ già 70 tuổi. Trong một bức thư để lại trước khi quyên sinh, cụ viết rằng muốn chết vì không thích nghi được với cuộc sống. Thông thường, mỗi người tự tử thường có bức thư tuyệt mệnh trong túi, có người chết vì đau răng, có người vì giận đồng nghiệp…

Tự tử ở cầu Cổng Vàng để nổi tiếng?

Không chỉ có thường dân chọn cầu Cổng Vàng để trẫm mình mà nhiều nhân vật lớn cũng chọn nơi đây để thác đời. Đó là trường hợp của Roy Raymond, người sáng lập ra hệ thống bán hàng bí mật Victoria. Ông đã nhảy cầu năm 1993. Tiếp sau đó là thủ quỹ của đảng Dân chủ, bạn thân của cựu Phó tổng thống Al Gore cũng chọn cầu Cổng Vàng để tự vẫn.

Theo tính toán thì cứ 18 phút lại có một người chết do bệnh tật, tự sát, tai nạn giao thông hay thanh toán nhau bằng súng tại Mỹ. Những cái chết trên ít được báo chí nhắc tới. Chính vì điều này mà chết ở cầu Cổng Vàng là “ước mơ” của nhiều người vì thường được báo chí nhắc tới nhiều.

Có người ở các bang khác xa xôi trước khi đến cầu Cổng Vàng trẫm mình đã phải tích cóp nhiều tháng lương mới đủ tiền đi đường tới đó tự vẫn. Nhiều chuyên gia xã hội học cho rằng, chuyện lìa đời ở Mỹ là bình thường, ít được mọi người quan tâm vì thế nhiều người muốn đến cầu Cổng Vàng tự vẫn để cái chết của họ “mang tính thẩm mỹ, lãng mạn và gây sốc cho dư luận”. Bằng chứng là cách cây cầu Cổng Vàng không xa có một cây cầu khác y chang như nó nhưng từ khi hình thành đến nay chẳng ai chọn nơi đây để chết. Tuy nhiên, cũng có nhiều người muốn tới cầu Cổng Vàng để tự vẫn, nhưng vì thấy cảnh ở đây đẹp và lãng mạn nên họ từ bỏ ý định.

Rất nhiều người đã làm đơn kiện lên chính quyền thành phố, cho rằng cái chết của người thân của họ là do cầu Cổng Vàng không có lan can. Tuy nhiên, bao nhiêu lá đơn xếp chồng lên đều bị chính quyền thành phố dẹp đi. Năm 1976, một kỹ sư tên là Roger Grimes cũng đã đưa ra kiến nghị xây lan can cầu Cổng Vàng, nhưng chẳng ai ngó ngàng tới chuyện này.

Phải chăng thành phố San Francisco không quan tâm tới tính mạng con người? Xin thưa không phải vậy, vì nếu làm lan can thì cây cầu mất đi vẻ đẹp và sự lãng mạn đến dễ sợ của nó. Khi đó, cầu Cổng Vàng sẽ chẳng còn thu hút được khách du lịch nhiều như hiện nay: 10 triệu người tới thăm/năm


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

2 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:54 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Những cái chết bí ẩn tại vùng biển thuộc dãy Đại san hô


Ngày 20/9/1997, Michiko Okuyama, nữ du khách người Nhật 22 tuổi, đến Cairns để thực hiện một chuyến lặn thám hiểm xuống dãy Đại san hô lớn nhất thế giới bao bọc quanh thành phố biển tuyệt đẹp của vùng Bắc Australia. Sau khi đến bưu điện gửi thư về cho gia đình và mua sắm vài món đồ cần dùng, Michiko biến mất…

Hai tuần sau, một ngư dân phát hiện xác của cô nằm giữa bãi cây sú vẹt ngập mặn ở ngoại ô phía bắc thành phố Cairns và liền báo cho cảnh sát. Theo giám định của cảnh sát, nạn nhân chết do bị một vật cứng va đập mạnh vào đầu, nhưng họ không tìm thấy bất cứ chứng cứ nào cho thấy cô gái du khách người Nhật này bị giết chết. Dù tiến hành điều tra theo nhiều hướng, cảnh sát vẫn không làm sáng tỏ được cái chết bí ẩn của Michiko.

Đây cũng là một trong 13 cái chết bí ẩn diễn ra tại vùng biển thuộc dãy Đại san hô từ năm 1997 đến nay, được một cựu nhân viên điều tra của Sở Cảnh sát bang Queensland, đồng thời là một nhà báo, tên là Robert Reid, nêu ra trong cuốn sách có tựa đề Dưới vầng trăng u ám, được nhà xuất bản Blue Heeler Books phát hành tháng 4/2004.

Tác giả Robert Reid cho biết: “Nhiều xác người được tìm thấy trong các rừng cây ngập mặn, trên bãi biển và cả dưới vùng nước trong xanh của dãy Đại san hô. Họ chết một cách bí ẩn, mà cho dù có tổ chức điều tra cách mấy, cảnh sát vẫn không tìm ra manh mối".

Ngày 8/7/1998, một du khách phát hiện một xác người tại vũng Behana Creek và liền báo tin cho cảnh sát. Giám định của cảnh sát cho biết, nạn nhân là một cô gái trẻ 17 tuổi, người thành phố Cairns, tên là Angela Mealing. Cô được gia đình khai báo mất tích cách đó 6 tuần trên đường trở về nhà sau một buổi khiêu vũ. Giả thiết nạn nhân tự tử được nêu ra khi các nhân viên điều tra phát hiện vô số hình dây thòng lọng treo cổ được vẽ trên các tập vở của Angela. Tuy nhiên, Robert Reid, lúc đó còn đương chức phụ trách điều tra hình sự của Sở Cảnh sát bang Queensland, đặt nghi vấn rằng làm cách nào mà nạn nhân đến được vũng Behana Creek, cách thành phố Cairns đến 8 km để tự tử?

Nhiều tài xế xe tải, xe du lịch khai với cảnh sát rằng vào tối hôm xảy ra vụ mất tích của Angela, họ không trông thấy bất cứ ai đi bộ dọc theo xa lộ Burce Highway theo hướng từ thành phố Cairns đến vũng Behana Creek. Hầu như cảnh sát không tìm thấy bất cứ dấu vết nào chứng tỏ nạn nhân đã bị sát hại.

Đến ngày 22/1/1999, cặp vợ chồng du khách người Mỹ, Eileen và Tom Lonergan, lại mất tích khi lặn xuống vùng biển của dãy Đại san hô gần thị trấn Port Douglas. Tuy đã lặn đi lặn lại nhiều lần, nhưng Jack Nairn, hướng dẫn viên một toán du khách người Mỹ đến lặn tham quan tại dãy Đại san hô, vẫn không tìm ra bất cứ dấu vết của cặp vợ chồng du khách người Mỹ này.

Khai báo với cảnh sát sau 8 giờ xảy ra vụ mất tích bí ẩn, Jack Nairn cho biết, Eilenn và Tom Lonergan là những thợ lặn chuyên nghiệp và đã không trở về tàu sau thời hạn quy định là chỉ được lặn không quá 40 phút. Bốn ngày sau, xác của họ được phát hiện ở vùng biển Gordonvale, cách nơi họ mất tích 2 km. Giám định của cảnh sát cho biết, hai nạn nhân tử vong do nước tràn vào phổi. Vậy cặp vợ chồng du khách người Mỹ này đã tự tử hay gặp tai nạn khi lặn?

Trường hợp đặc biệt mà Reid nêu ra trong phần cuối cuốn sách là về một cô gái tên là Natasha Ryan. Tháng 2/2000, cô gái mới 16 tuổi sinh sống tại thành phố Cairns này bỗng mất tích. Dân cư thành phố nháo nhào đi tìm Natasha nhưng không có kết quả. Một du khách khai báo với cảnh sát là đã trông thấy một cô gái có vóc dáng như Natasha đi chậm rãi xuống biển vào một đêm không trăng rồi mất dấu luôn. Sau một thời gian điều tra về vụ mất tích bí ẩn của Natasha Ryan mà không có kết quả, cảnh sát kết luận là cô gái trẻ đã chết.

Vậy mà chuyện lạ đã xảy ra tháng 4/2003, khi một người quen của gia đình Ryan tình cờ phát hiện Natasha Ryan có mặt tại một căn nhà nhỏ ở một bãi biển hoang vắng cách thị trấn Port Douglas 12 km. Khi cùng cảnh sát đến nơi, cha mẹ của Natasha đã hết hồn khi biết đó chính là cô con gái được cho là đã chết cách đây gần 3 năm. Khai báo với cảnh sát, Natasha thú nhận là đã bỏ trốn đến sinh sống cùng bạn trai tại ngôi nhà hoang vắng này từ tháng 2/2000 mà không liên lạc gì với gia đình cho đến ngày bị phát hiện.

Về hành động này mà Natasha đã bị truy tố tội khai báo không ngay thật về sự tồn tại của mình khiến cho cảnh sát phải tốn công tốn sức tổ chức điều tra trong một thời gian dài


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

3 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:55 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Kẻ cướp trở thành tiến sỹ luật học


Sau nhiều lần đánh cướp tài sản có vũ khí, bắn bị thương người thi hành công vụ, Christian Laplanche đã chuộc tội bằng cách miệt mài học tập trong tù và lấy bằng tiến sỹ luật học. Christian mơ ước trở thành luật sư nhưng với quá khứ lỗi lầm, đó không phải việc dễ dàng.

Năm 1981, Christian Laplanche, học sinh lớp 12 của Trường Saint - Joseph tại vùng Avignon (Pháp), cùng một người bạn quyết định tiến hành các vụ cướp. Gần lễ Noel năm đó, Laplanche tới một cửa hàng bán vũ khí mua một khẩu súng lục rồi cùng người bạn cướp một tiệm bán thuốc lá, lấy đi 700 frăng trước khi tẩu thoát bằng môtô. Động cơ của vụ cướp không phải vì tiền mà đơn giản vì Laplanche ưa mạo hiểm.

Với quyết tâm khẳng định bản thân, trong 5 tháng sau đó, Christian Laplanche cùng người bạn tiến hành trên 12 vụ. Ngày 21/4/1982, với vũ khí trên tay, Laplanche cùng người bạn đã tấn công một bưu điện ở Barbentane, cướp tiền rồi tẩu thoát. Trên đường bôn tẩu, 2 kẻ quậy phá kia đụng phải một cảnh sát khu phố. Người này vừa hô vừa bắn chỉ thiên. Laplanche quay lại và bóp cò, viên đạn ghim vào chân viên cảnh sát.

Hai tuần sau khi gây án, cảnh sát vùng Arles đã đến bắt Laplanche ngay tại trường học. Chàng thanh niên trẻ này đã khai nhận tất cả. Xavier de la Soujeole, thẩm phán phụ trách điều tra vụ án, cho biết: “Vụ việc này khá nghiêm trọng, nhưng tôi có cảm giác rằng Laplanche có thể cải huấn được. Cậu ta không nói dối cũng không chối bỏ trách nhiệm”.

Kết thúc điều tra, thẩm phán Soujeole đã buộc Laplanche tội đánh cướp có tổ chức và âm mưu sát hại người khác. Sau đó, vị thẩm phán này đã khuyên Laplanche nên học nốt để lấy bằng tú tài trong nhà tù, và nếu đỗ cậu ta có thể được trả tự do tạm thời chờ lệnh triệu tập của tòa đại hình.

Trong phòng giam, Laplanche học tập không biết mệt mỏi từ triết học, luật học cho tới toán học, sau đó lấy bằng tú tài trong kỳ thi được tổ chức ngay tại nhà tù. Cùng thời gian đó, Laplanche nghiên cứu rất kỹ các tác phẩm của Albert Camus, bộ luật tố tụng hình sự và giúp đỡ các “đồng nghiệp” soạn thảo đơn xin ân xá, hay đơn xin trả tự do.

Sau 14 tháng bị cầm tù, Laplanche được thẩm phán Soujeole ra quyết định trả tự do tạm thời. Cũng theo lời khuyên của vị thẩm phán này, sau khi được trả tự do có điều kiện, Christian Laplanche tiếp tục đăng ký theo học Đại học Luật ở Montpellier.

Tại tòa đại hình Aix-en-Provence, diễn ra vào tháng 11/1987, Laplanche bị tuyên phạt 5 năm tù giam, trong đó 3 năm tù giam và 2 năm cho hưởng án treo. Và chính trong thời gian ngồi tù này, Christian Laplanche đã hoàn tất luận án thạc sĩ luật hình sự. Do nhận thấy sự hối cải và thái độ hợp tác, sau thời gian tạm giam chờ ngày thi hành án, Laplanche được thả tự do có điều kiện.

Ngay sau khi ra tù, Laplanche bảo vệ thành công luận án tiến sĩ luật. Giống như mọi vị giáo sư luật học, Laplanche chỉ cần ghi tên là đủ để trở thành luật sư. Tuy nhiên, luật pháp của Pháp quy định rõ để trở thành luật sư, Laplanche phải chưa từng bị ghi vào sổ đen vì đã xâm phạm phong tục, danh dự và sự liêm khiết. Tại Nimes, Đoàn luật sư yêu cầu Laplanche phải chứng minh rằng danh dự trong sạch của mình. Do những tội trạng trước đây đã rõ ràng, Laplanche đã bị Đoàn luật sư Nimes từ chối.

Ngày 9/7/2003, Laplanche kháng cáo lên Tòa phúc thẩm thành phố Nimes đòi quyền được làm luật sư. Trong lịch sử ngành Tư pháp đã có nhiều trường hợp như Laplanche. Chẳng hạn như năm 1992, Đoàn luật sư Paris đã chấp nhận cho một người từng bị kết tội 20 năm tù giam vì tội giết vợ được gia nhập đoàn luật sư. Sau này, tên tuổi của kẻ hoàn lương trên được nhiều người trong giới luật sư kính nể và tâm phục


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

4 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:55 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Kẻ sát nhân mang bộ mặt cười



Từng gây ra vụ giết người hàng loạt làm chấn động dư luận Autralia năm 1942, nhưng thủ phạm Edward Joseph Leonski không hề tắt nụ cười trên môi. Kể cả khi bị bắt đến trước phút bị treo cổ, y vẫn hát một mình: "Ngày mai là một ngày đáng yêu…”.

Giữa lúc Chiến tranh Thế giới II (1939-1945) diễn ra ác liệt, Mỹ đưa quân qua Autralia để yểm trợ nước này trước mối đe doạ ngày càng lớn của quân phiệt Nhật ở vùng biển Thái Bình Dương. Camp Pell là tên một trại lính Mỹ nằm ở công viên hoàng gia thuộc thành phố Melbourne.

Vào năm 1942, Melbourne là một địa phương theo chế độ “đêm nâu”. Nghĩa là ban đêm, mọi người hạn chế tối đa việc sử dụng ánh sáng, để tránh trở thành mục tiêu cho những đợt pháo của địch. Trong điều kiện đó, cửa sổ nhà ban đêm phải được bịt kín hoàn toàn, đèn xe chỉ mở vừa đủ thấy đường đi và xe chỉ được chạy với tốc độ tối đa 32km/h. Những biện pháp đó giúp giảm thiểu những thiệt hại từ bên ngoài như pháo kích, oanh tạc, nhưng chúng lại tạo điều kiện cho tội phạm bên trong phát triển.

Ngày 3/5/1942, người ta tìm thấy thi thể bị lột trần của một phụ nữ tên Ivy Violet Mcleod nằm ở hành lang đi vào một cửa hiệu gần đại lộ Victoria. Trước đó có người nhìn thấy chị đứng nói chuyện với một lính Mỹ tại trạm chờ xe điện ngầm. Cuộc khám nghiệm cho thấy nạn nhân bị đánh đập, xé nát quần áo và bóp cổ cho đến chết. Tuy nhiên, không có dấu hiệu nào của một vụ cướp, vì ví tiền của nạn nhân còn nguyên vẹn.

Sáu ngày sau, thi thể của Pauline Thompson, một phụ nữ 31 tuổi được tìm thấy ở bậc thềm của một ngôi nhà trên đường Spring. Chị là tốc ký viên, làm thêm việc ở đài phát thanh địa phương và thường tham gia công tác từ thiện. Đêm đó, chị có hẹn với một binh nhì Mỹ Justin Jones để cùng đi liên hệ với một Câu lạc bộ từ thiện của Mỹ nhằm gây quỹ mua một xe cứu thương và tổ chức vui chơi cho binh sỹ trú đóng.

Thompson chờ Jones hơn 30 phút mà không thấy anh đến nên bỏ đi. Đêm đó, có người thấy chị ở khách sạn Astoria với một lính Mỹ khác đang say rượu, rồi sau đó chị rời khách sạn, đi giữa đêm mưa gió. Cuộc khám nghiệm tử thi cho thấy cái chết của Thompson y như của Mcleod, nghĩa là bị đánh đập, xé quần áo trước khi bị bóp cổ cho đến chết.

Nạn nhân thứ ba được phát hiện 10 ngày sau đó. Chị tên Gladys Hosking, một thư ký độc thân 41 tuổi, làm thư ký và coi sóc thư viện ở trường Đại học Melbourne, gần Camp Pell. Người ta tìm thấy thi thể nạn nhân ở một con mương cạnh trại lính, gần đó là một chiếc ô và một cái mũ.

Đêm 18/6, nhiều người thấy Hosking đi sánh đôi với một lính Mỹ. Hai người che chung một cái ô, trông Hosking vui vẻ và thoải mái. Cũng trong đêm ấy, một lính Australia tên Noel Seymour có nhiệm vụ canh phòng đoàn xe tải gần trại Camp Pell nghe có tiếng động nhỏ, vội rọi đèn pin và phát hiện một lính Mỹ đang đi về hướng trại, trên người dính đầy bùn. Anh ta nói với Seymour là vừa đi chơi với bạn gái về và trượt chân ngã vào một vũng bùn.

Cái chết bí ẩn của ba phụ nữ Australia xảy ra chỉ trong hơn nửa tháng, với một kết cục như nhau đã khiến cho cư dân Australia rơi vào trạng thái kinh hoàng. Phụ nữ không dám ra khỏi nhà vào ban đêm, ai đi làm cũng tranh thủ về thật sớm vào buổi chiều. Người ta gọi thủ phạm giấu mặt là “kẻ bóp cổ người giữa đêm nâu”.

Truy tìm thủ phạm

Cơ quan điều tra Australia bắt tay vào cuộc và thám tử Harold McGufie được giao trọng trách phá án. Do sự kiện được công bố rộng rãi, nhiều phụ nữ liên hệ với chính quyền khai báo rõ việc họ bị một lính Mỹ tấn công tương tự, may mà họ thoát nạn. Một người kịp nhìn thấy mấy chữ E.J.L. phía trước áo thun của y khi tri hô cầu cứu.

Tin rằng thủ phạm của các vụ án trên là một lính Mỹ, McGufie cùng các cơ quan điều tra Australia đã can thiệp để cho toàn bộ 15.000 lính Mỹ ở Camp Pell cấm trại hoàn toàn. Các nhân chứng được hộ tống vào trại để nhận diện thủ phạm, nhưng cuối cùng không ai thành công trong công việc khó khăn này.

Người ta bắt đầu nghi ngờ giả thuyết lính Mỹ là thủ phạm gây ra những cái chết trên. May sao, không lâu sau, người ta bắt được một kẻ tình nghi tấn công cháu gái của một nhân chứng, và anh lính Australia Noel Seymuor nhận ra đó là anh lính Mỹ mà anh đã tình cờ gặp trong đêm xảy ra cái chết của nạn nhân thứ ba.

Cuối cùng, qua khai thác, thủ phạm nhìn nhận hết tội lỗi. Y tên Edward Joseph Leonski, 24 tuổi, binh nhì Mỹ thuộc Tiểu đoàn 52 đóng ở trại Camp Pell. Hồ sơ cá nhân của y từng ghi nhận y toan bóp cổ một cô gái trẻ ở San Antonio, Texas (Mỹ). Y có một người anh mắc bệnh tâm thần.

Phiên toà hình sự Melbourne diễn ra công khai và bị cáo Leonski khai rằng mình bị bệnh tâm thần, nhưng các cuộc kiểm tra của các nhà tâm thần học Mỹ và Australia phủ nhận tình trạng này.

Điều làm cho mọi người hết sức ngạc nhiên là bị cáo tươi cười từ đầu đến cuối phiên toà diễn ra vào ngày 4/11/1942, kể cả khi bị tuyên án tử hình dưới hình thức treo cổ. Y tiếp tục cười suốt 5 ngày sau đó, cho đến hôm 9/11, vẫn giữ thái độ bình thản khi bị dẫn đến giá treo cổ ở nhà tù Pentridge.

Vụ án Leonski kết thúc vào năm 1942, đến năm 1985, nó được tái hiện trên sân khấu qua vở kịch có tên Death of a soldier (Cái chết của một người lính) do diễn viên Reb Brown thủ vai Leonski. Nụ cười của Brown khiến cho những cụ ông, cụ bà từng chứng kiến phiên toà năm 1942 nhớ ngay đến nụ cười bất tận của Leonski


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

5 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:56 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Giờ phút cuối cùng của Thánh Mahatma Gandhi



Cách Gandhi chưa đầy 1 mét, người đàn ông lạ bắn 3 phát đạn bằng một khẩu súng ngắn nhỏ kiểu châu Âu. Phát thứ nhất trúng tim. Hai phát sau xuyên thủng bụng. Gandhi ngã xuống phía trước, hai bàn tay chắp lại và thì thào lời giã từ cõi trần thế: "Hay, Rama” (Ôi, lạy Thánh!).

Gandhi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 30/1/1948. Trước đó ít hôm, nhóm mưu sát gặp nhau lần cuối. Chúng thề sẽ tiêu diệt Gandhi, kẻ thù của bá quyền Hindu, người chủ trương hòa giải với đạo Hồi. Đến ngày hành động, chúng bí mật đột nhập khu nhà yên tĩnh Birna House của Mahatma, nấp ở đấy 3 giờ liền trước khi bắn ra những phát súng oan nghiệt.

Lúc ấy khoảng 16h30’, Mahatma Gandhi có hai cháu gái bên mình, Abha (20 tuổi) và Manu (17 tuổi). Các cháu mang đến cho ông giỏ thức ăn gồm sữa dê, rau luộc, rau sống, hoa quả, gừng và dầu ăn. Gandhi ngồi dưới đất trong gian phòng ngôi nhà, trao đổi công việc với S.V.Patel, Phó chủ tịch Hội đồng, con gái ông Maniben và viên thư ký. Một chuyện bất hòa đã xảy ra giữa Chủ tịch Hội đồng Nehru và Patel, nên lúc này Gandhi, với uy tín và đức độ khoan dung của mình, đang tiến hành hòa giải.

Cô cháu gái Abha không dám ngắt lời ông, nhưng biết rõ tính chính xác của ông mình. Cuộc cầu nguyện bắt đầu, đã đến giờ Mahatma phải có mặt với các tín đồ trong buổi lễ. Abha giơ lên chiếc đồng hồ quả quýt mạ vàng cũ kỹ và ra hiệu. Ông già vội đứng dậy: “Hai cây gậy tuổi già của tôi đấy” – ông nói vui vẻ với Patel.

Vừa đi ra sân rộng, Gandhi vừa đùa với các cháu. Sáng hôm ấy, do Abha cho ông uống nước củ cà rốt, nên ông nói: “Cháu phải khen ông ngoan, vì ông ăn được mọi thứ người khác chê” – Gandhi cười rất vui.

Abha ngắt lời: “Bapu này, đồng hồ của ông đang buồn, vì hôm nay ông chưa nhìn nó lần nào!”.

- “Tại sao phải nhìn, các cháu chả phải là hai chiếc đồng hồ của ông đó sao?”.

Họ đến chỗ mọi người đã tề tựu, chờ đọc kinh cầu nguyện, và Gandhi còn nói thêm với cháu mình một câu: “Vâng, ông biết rồi, ông chậm 10 phút. Ông hay sợ chậm giờ lắm, lẽ ra ông phải có mặt ở đây đúng 5 giờ”.

Gandhi bước lên bậc thang gạch. Abha và Manu, đỡ ông đi lên. Có ai đó chào Gandhi, ông quay lại, gạt nhẹ hai cháu ra để chắp tay đáp lễ theo phong tục người Hindu. Đúng lúc đó, một người đàn ông tách khỏi đám đông và sáp đến gần họ. Manu thấy ông mình đã đến muộn, định ngăn người đó lại nhưng bị đẩy mạnh ra. Và ngay sau đó là 3 phát súng chĩa về phía Gandhi…

Sự việc xảy ra khiến đám đông co rúm lại không một cử động, trong khi hai cô cháu gái nâng tấm thân gầy của Gandhi đưa vào nhà Birna House.

Tom Reiner, Phó lãnh sự Mỹ vừa đến Ấn Độ, lần đầu tiên đến tham dự một cuộc cầu nguyện, lập tức tóm lấy tên hung thủ. Y là Nathuram Godse, một tên Hindu cực đoan, Tổng biên tập báo Agroni, và là thành viên tích cực của tổ chức Hinđu cực đoan Mahassabha.

Trong phiên tòa xét xử y sau này, mặc dù có dư luận muốn khoan hồng cho y, theo lời giáo huấn của Gandhi – xóa bỏ hận thù và bạo lực – Godse vẫn bị treo cổ, và đồng bọn của y tham gia vụ ám sát đều bị kết án tù chung thân.

Vị thánh sống Ấn Độ

"Làm thế nào đoàn kết người Hồi giáo với người Hindu? Câu trả lời rất giản đơn: Phải cùng chung mục đích, chung niềm vui nỗi buồn, chia sẻ khó khăn, cùng thông cảm và độ lượng. Độ lượng và khoan dung là cần thiết đối với mọi dân tộc, mọi thời đại...".

Quan điểm đoàn kết với Hồi giáo được Mahatma Gandhi truyền bá như trên không làm vừa lòng những phần tử Hindu cực đoan. Họ cảm thấy đạo Hindu bị lép vế, nguy cơ Hồi giáo phát triển sẽ phương hại đến tương lai của Ấn Độ. Và họ quyết định phải diệt ngay mối họa từ bên trong ấy.

Gandhi từng bị ám sát hụt hai lần. Lần thứ nhất vào ngày 25/6/1934. Một quả bom của tổ chức cực đoan Mahassabha (Đại xã hội Hindu) được ném vào xe Gandhi ở Poona, nhưng không ai bị thương.

Lần thứ hai là vụ mưu sát do 9 phần tử cực đoan Hindu đánh bom (ngày 20/1/1948). Chúng trà trộn vào đám người hành hương đến nghe Gandhi thuyết giảng, định cho nổ bom trong phòng cầu nguyện, nhưng thấy quá đông người nên cuối cùng chúng phải ném bom từ ngoài vào. Bom nổ, phá bức tường khu vườn cách Gandhi 50 mét. Vị thánh sống Ấn Độ vẫn bình thản ngồi yên, đắm mình trong trầm tư sâu lắng và tiếng kinh cầu nguyện của tín đồ vẫn tiếp tục vang lên trời cao.

Sau những sự kiện trên, người ta tăng quân số cảnh vệ ngôi nhà Birna House lên gấp 3. Nhưng Gandhi không sợ chết. Ông nói với 20 cảnh vệ mới: “Tôi đã 78 tuổi. Nếu tôi phải chết, thì không cách đề phòng nào có thể cứu. Chỉ có Thượng đế mới che chở được tôi”.

Cuối cùng, nhóm cực đoan Hindu đã giết được Mahatma Gandhi, tiêu diệt thể xác ông, nhưng linh hồn ông vẫn sống mãi. Với ông, những người Hồi giáo, Hindu, Công giáo, Tin Lành, Do Thái..., tất cả mọi người, trai cũng như gái thuộc mọi tín ngưỡng, mọi chủng tộc và tôn giáo, đều là anh em.

Gandhi được chôn cất như một vị thánh, sau một buổi lễ cầu kinh mà tại đó, khuôn mặt ông được che khuất một phần sau tấm vải liệm và 5 bó đuốc sáng rực tượng trưng cho 5 yếu tố của đất trời là không khí, ánh sáng, nước, đất và lửa


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

6 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:56 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Những cái chết bí ẩn trên xa lộ A6



14 cô gái đã bị chết và mất tích một cách bí hiểm dọc theo 200 km của xa lộ A6 nối liền miền Trung nước Pháp với thủ đô Paris, trong vòng 7 năm từ 1984 đến 2001. Một số cái chết đã được làm sáng tỏ nhưng còn nhiều cái chết và vụ mất tích khác vẫn nằm trong bóng tối.

Khi bác sĩ pháp y đưa các món nữ trang và dẫn bà Betti vào nhà xác để nhận dạng con, bà òa khóc rồi ôm chầm tấm thân lạnh giá của cô con gái Carole Soltysiak. Ngày 16/11/1990, một người thợ rừng phát hiện xác của Soltysiak nằm trong khu rừng Ramus ở vùng Montceau-les-Mines, cách xa lộ A6 ba km.12 năm sau, vào tháng 9/2002, thủ phạm giết hại Carole Soltysiak mới sa lưới pháp luật.

Còn bà Marie Pichon phải chờ đợi lâu hơn để được làm sáng tỏ về cái chết thảm của con gái mình. Ngày 13/12/1986, một người đưa thư đã phát hiện xác của Christelle Maillery,16 tuổi, trong một ngôi nhà hoang tại vùng Creusot gần sát xa lộ A6. Mãi 15 năm sau, thủ phạm giết hại Christelle Maillery mới bị bắt.

Thế nhưng, hai vụ phá án trên chỉ chiếm tỉ lệ quá khiêm tốn so với 14 vụ giết người và mất tích dọc theo 200 km của xa lộ A6 từ năm 1984 đến năm 2001. Cho đến nay, những cái chết của Nathalie Maire tháng 9/1987, của Sylvie Baton tháng 5/1989, của Danielle Bernard tháng 7/1989, của Joanna Parrish tháng 5/1990, của Christelle Blétry tháng 12/1996 và của một nữ nạn nhân vô danh vào tháng 7/2001 cùng 6 vụ khai báo mất tích khác (mà gia đình cho rằng chắc chắn họ đã chết) vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Trở lại vụ án giết hại Christelle Maillery, trưa ngày 13/12/1986, một người đưa thư đã phát hiện thi thể nạn nhân nằm trong một ngôi nhà hoang. Anh ta khai với cảnh sát là đã trông thấy một gã đàn ông chừng 20 tuổi, cao khoảng 1,8 mét, ăn mặc theo kiểu ca sĩ Renaud vụt chạy từ ngôi nhà hoang về phía xa lộ A6. Với những tình tiết như vậy, cảnh sát cũng chẳng làm được gì hơn.

4 năm sau, khi xảy ra vụ giết hại Carole Soltysiak, cũng có nhân chứng khai báo trông thấy hai người đàn ông lạ mặt, trong đó có một người ăn mặc kiểu ca sĩ Renaud lảng vảng gần hiện trường. Lúc đó cảnh sát mới chú ý đến sự trùng hợp này. Vậy mà không biết vì lý do gì, cuộc điều tra chỉ dừng ở chỗ tạm giữ người đàn ông ăn mặc giống ca sĩ Renaud để thẩm vấn rồi sau đó trả tự do cho hắn ta.

Năm 2001, từ kiến nghị của gia đình các nạn nhân, Bộ Nội vụ Pháp quyết định phục hồi các cuộc điều tra và tiến hành bắt giữ nghi can số 1 là gã đàn ông có dáng vẻ và ăn mặc giống ca sĩ Renaud. Hắn tên François Mourmand. Bị thẩm vấn bởi các điều tra viên giàu kinh nghiệm, cuối cùng François Mourmand thú nhận hắn ta chính là thủ phạm đã sát hại nạn nhân Christelle Maillery tháng 12/1986 trong một ngôi nhà hoang tại vùng Creusot.

Sau đó, hắn cũng khai nhận đã tham gia vào vụ giết hại cô gái Carole Soltysiak tháng 11/1990 cùng với tên đồng bọn là Alain Marecaux. Nhưng Alain Marecaux là tên ra tay hạ thủ nạn nhân chứ không phải hắn. Từ lời khai nhận của François Mourmand, cảnh sát đã tiến hành bắt giữ Marecaux tháng 9/2002.

Vậy còn những cái chết và những vụ mất tích bí hiểm khác thì sao? Lập lại hành trình di chuyển của Francis Heaulme trước khi hắn ta bị bắt giữ vào năm 1992, các điều tra viên nhận thấy có sự trùng hợp: Những nơi hắn ta có mặt đều xảy ra các vụ mất tích bí mật hay giết người có liên quan đến những nạn nhân trong vụ án.

Năm 1984, khi Francis Heaulme xuất hiện tại thành phố Mâcon nằm trên ngã ba xa lộ A6 và A40 thì xảy ra vụ mất tích của hai cô gái tên Françoise Bruyère và Marie-Agnès Cordonnier. Đến tháng 7/1987, khi hắn ta có mặt tại thành phố Saint-Albain thì xảy ra vụ giết hại cô gái trẻ Nathalie Maire. Vào tháng 12/1987, khi hắn ta lảng vảng tại thị trấn Saint-Georges sur Baulche thì xảy ra vụ mất tích của cô Isabelle Laville. Rồi đến tháng 12/1990, khi hắn ta hiện diện tại thành phố nhỏ Monéteau nằm trên xa lộ A6 gần thành phố Auxerre thì xảy ra vụ Joanna Parrish bị giết chết.

Lật lại mối liên quan giữa Francis Heaulme với 5 vụ giết người và mất tích từ năm 1984 đến năm 1990 không phải là một việc làm dễ dàng đối với các điều tra viên của Bộ Nội vụ Pháp. Tại những nơi mà Francis Heaulme từng có mặt, các điều tra viên phải lập lại thời gian biểu sinh hoạt của hắn ta qua lời khai của nhiều nhân chứng.

Bản thân Francis Heaulme khai nhận, hắn ta hầu như đã quên mất những hành vi liên quan đến vô số tội ác của mình. Hiện nay, với sự hỗ trợ của hai chuyên viên tâm lý và phân tâm lý, Francis Heaulme đang được dẫn giải đến những thị trấn, thành phố nằm trên xa lộ A6 mà hắn từng có mặt để buộc hắn phải nhả ra từng lời khai nhận có liên quan đến các vụ mất tích và giết người trên.

Một tên giết người hàng loạt khác cũng được các điều tra viên đưa vào diện nghi can, đó là “Con Chằn tinh” Michel Fourniret, kẻ mới thú nhận đã ra tay giết hại... 9 mạng người tại Pháp và Bỉ. Các điều tra viên xác nhận là Fourniret từng lảng vảng tại những cung đường xảy ra các vụ giết người và mất tích bí mật trên xa lộ A6 từ năm 1990 đến năm 2001. Hắn thường chọn nạn nhân là những cô gái trẻ xin đi quá giang xe.

Lập lại hành trình di chuyển của Fourniret, các điều tra viên xác định hắn có mặt tại thị trấn Perrecy-les-Forges vào tháng 11/1990 khi xảy ra vụ mất tích của cô Marie-Angèle Foatelli, tại thành phố nhỏ Bianzy khi xảy ra vụ giết hại cô Christelle Blétry vào tháng 12/1996 và tại thành phố Mimeure khi xảy ra vụ giết hại một cô gái vô danh vào tháng 7/2001. Nạn nhân Christelle Blétry và nạn nhân vô danh đều bị làm nhục rồi bị siết cổ đến chết trước khi bị vứt xác xuống hố và giếng nước, đó cũng là kiểu mà Fourniret ra tay hành xử với 9 nạn nhân mà hắn ta đã khai nhận trước đó


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

7 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:57 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Vụ án người thừa kế dòng họ MacPherson



Jillian MacPherson Brewer (25 tuổi), một phụ nữ trẻ đẹp, giàu có và tài năng đã bị giết hại vào ngày 19/12/1986. Dưới sức ép từ phía gia đình, cảnh sát Úc đã tìm ra được 1 “thủ phạm”. Nhưng phải 17 năm sau, nhờ cố gắng của một thám tử tư, thủ phạm thực sự mới lộ diện.

Nạn nhân được phát giác khi Andrew Dinnie đến căn hộ sang trọng của Jillian nằm ở trung tâm thành phố. Andrew thật sự kinh hoàng khi phát hiện vị hôn thê của mình đã bị giết chết. Điều tra của cảnh sát cho biết nạn nhân đã bị cưỡng hiếp rồi bị giết chết bằng một vật cứng đánh mạnh vào đầu nhiều lần.

Cái chết bất ngờ và đầy bi thảm của Jillian MacPherson Brewer đã khiến cho cả thành phố Perth bị sốc vì nạn nhân là người sẽ thừa kế sản nghiệp của MacPherson, một trong những dòng họ nổi tiếng và giàu có nhất nhì nước Úc với hệ thống các siêu thị, nhà máy, cửa hàng chuyên sản xuất và kinh doanh thực phẩm tại Úc và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Do có năng lực làm việc và thông minh nên Jillian được cha là Sir MacPherson Robertson chỉ định là người thừa kế chính thức của dòng họ.

Cũng chính vì sự nổi tiếng của dòng họ MacPherson mà cảnh sát phải chịu một sức ép to lớn là bằng bất cứ giá nào phải tìm ra bằng được thủ phạm trong thời gian ngắn nhất. Thế nhưng cũng phải gần một năm trời điều tra, cảnh sát mới bắt giữ một nghi can mà họ cho rằng chính là thủ phạm. Đó là Raymond Beamish, 43 tuổi, từng có tiền án và tiền sự về tội quấy rối tình dục đối với phụ nữ. Bị cảnh sát thẩm vấn suốt nhiều ngày liền, cuối cùng Beamish phải ký vào các biên bản nhận tội là đã cưỡng hiếp rồi giết chết Jillian. Vì vậy, vào ngày 22/7/1987, Beamish bị Tòa án thành phố Perth tuyên án tù chung thân.

Thế nhưng, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 13/2/1988 của Tòa án bang Tây Úc, Beamish đã kháng án và cho rằng, mình không phạm tội giết hại Jillian MacPherson Brewer. Beamish giải thích lý do nhận tội là cảnh sát ép cung bằng cách buộc phải ký vào các biên bản. Hỗ trợ cho việc kháng án của Beamish là các cuộc vận động để minh oan cho Beamish của gia đình và các tổ chức tôn giáo. Sau nhiều lần xét xử, cuối cùng Tòa án bang Tây Úc quyết định giảm án tù chung thân của Beamish xuống còn 18 năm tù giam. Cho dù cảm thấy không thỏa đáng nhưng cả hai bên, dòng họ MacPherson và gia đình Beamish, đều phải bấm bụng chấp nhận.

Tuy nhiên, vẫn có một người tin rằng Beamish không phải là thủ phạm đã giết hại Jillian MacPherson Brewer. Đó là một thám tử tư có tiếng ở thành phố Perth tên là Walt Zwonitzer. Zwonitzer cho rằng, kiểu cách ra tay không để lại bất cứ dấu vết gì tại hiện trường phải là của một tên giết người chuyên nghiệp chứ không phải của một tay quấy rối phụ nữ lơ mơ như Beamish. Nhờ sự giúp đỡ của Tom Percy, luật sư biện hộ cho Beamish, Zwonitzer đã tiếp cận được với hồ sơ tố tụng của Beamish do cảnh sát và Tòa án thành phố Perth tổ chức điều tra. Từ đây ông, đã phát hiện một số nghi vấn.

Chẳng hạn trong biên bản nhận tội đầu tiên, Beamish khai rằng, phòng khách của Jillian có nhiều đồ cổ, nhưng thực ra vào thời điểm xảy ra vụ án mạng, phòng khách của nạn nhân được bày biện toàn đồ nội thất hiện đại mà không có bất cứ món đồ cổ nào. Trong biên bản nhận tội thứ hai, Beamish khai là đã ra tay hành xử nạn nhân trong bóng tối, trong khi Andrew Dinnie, vị hôn phu của Jillian, nhớ rằng, khi anh bước vào căn hộ và phát hiện ra xác chết của Jillian, thì cả phòng ngủ và phòng khách đều sáng choang ánh điện.

Một điều quan trọng khác là Beamish chỉ bị kết tội bởi các biên bản nhận tội chứ không phải từ các chứng cứ chứng minh sự phạm tội thật sự của anh ta. Vì vậy, Zwonitzer tin rằng Beamish hoàn toàn vô tội.

Sau một thời gian âm thầm điều tra, Zwonitzer cho rằng, thủ phạm chính là Matthew Cooke - một tội phạm giết người hàng loạt từng gây án tại nhiều thành phố ở miền Tây Úc trong thập niên 80. Khi bị bắt giữ vào năm 1988, tức là 2 năm sau khi xảy ra vụ án mạng của Jillian, Cooke thú nhận hắn ta đã ra tay giết hại 8 nạn nhân, trong đó có 3 nạn nhân bị giết hại giống kiểu cách xảy ra trong vụ án của Jillian, đó là cưỡng hiếp rồi dùng vật cứng đánh vào đầu nạn nhân cho đến chết. Nhưng hắn không đả động gì đến vụ giết hại Jillian.

Tháng 12/1986, khi xảy ra vụ giết hại Jillian, nhiều người cho Zwonitzer biết, Cooke có mặt tại thành phố Perth rồi hắn biến mất ngay sau đó.

Vài tháng sau, khi Cooke xuất hiện tại thành phố Geraldton, cách Perth 200km về hướng bắc, thì lại xảy ra vụ giết hại một phụ nữ tên là Sara-Lee Davey, 27 tuổi, cũng bị cưỡng hiếp rồi giết chết. Và đó cũng là nạn nhân cuối cùng mà Cooke ra tay giết hại trước khi bị bắt giữ vào tháng 9/1988.

Tin rằng Cooke chính là thủ phạm đã ra tay giết hại Jillian, Zwonitzer tìm cách tiếp cận hắn ta, qua sự giúp đỡ của Tom Percy - luật sư biện hộ cho Raymond Beamish trước đây - đã được bổ nhiệm công tố viên. Cooke đang thụ án tại nhà tù Fremantle với bản án tù chung thân suốt đời. Lúc đầu Cooke từ chối gặp gỡ Zwonitzer, nhưng nhờ sự giúp đỡ của mẹ hắn ta, bà Christine, cuối cùng, Zwonitzer cũng tiếp cận được với Cooke. Cho đến một hôm, khi nhắc đến vụ án mạng xảy ra vào tháng 12/1986 đối với Jillian MacPherson Brewer thì Cooke mới thú nhận đó là một trong các nạn nhân của hắn.

Cooke khai với Zwonitzer rằng, sáng sớm hôm xảy ra vụ án mạng, hắn giả dạng người đưa hoa, đột nhập vào căn hộ của Jillian, khống chế để cưỡng hiếp cô, sau đó dùng một cái búa nhỏ mà hắn luôn mang theo bên mình đập vào đầu nạn nhân nhiều lần cho đến chết. Xong việc, hắn rời Perth trở về Kalgoorlie, rồi thời gian sau bỏ đến Geraldton.

Có được lời khai nhận của Cooke, Zwonitzer liền cung cấp cho công tố viên Tom Percy để ông này minh oan cho Raymond Beamish vào năm 2002, lúc này đang còn thụ án tại nhà tù Fremantle. Nhưng phải đợi đến tháng 11/2003 thì Beamish mới được trả tự do và mãi đến tháng 8/2004, ông ta mới được minh oan về tội cưỡng hiếp và giết hại Jillian MacPherson. Phải mất gần 20 năm, cái chết bí ẩn của người thừa kế dòng họ MacPherson mới được làm sáng tỏ

Là con trai một gia đình di dân người Anh đến sinh sống tại thành phố Kalgoorlie, cách Perth 180km về hướng đông, Cooke từng là một nhà nghiên cứu động vật hoang dã, làm việc cho một tổ chức phi chính phủ vào năm 1978. Không hiểu sao chỉ vài năm sau, Cooke bỗng thay đổi tính tình, trở nên ít nói và có thái độ rất khó hiểu, đôi khi tỏ ra rất hung tợn. Năm 1980, sau khi bắn chết một nam sinh viên tên là John Lindsay Sturkey tại thành phố Perth trong một trận cãi cọ, Cooke trốn về Kalgoorlie rồi trượt dài trên con đường phạm tội.


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

8 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:57 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
“Thuỷ triều trắng” trên vùng biển Tây Ban Nha



Chiếc thuyền Boston Ward chở 714 kg cocain, bị bắt trên đường trở về Galicie đã nâng số lượng ma tuý bị bắt giữ trên biển Tây Ban Nha năm 2003 lên tới 37,4 tấn. Từ nhiều năm nay, Galicie trở thành vùng “thuỷ triều trắng” - cầu nối để các tập đoàn mafia ở Nam Mỹ tuồn ma túy vào châu Âu.

Là thành viên một băng nhóm buôn lậu ma túy ở Galicie, thuyền trưởng Ramon Gil (80 tuổi) được giao nhiệm vụ đưa chiếc Boston Ward đến tận đảo Sainte Lucie thuộc quần đảo Antilles ở Trung Mỹ để nhận hàng. Sau khi đã nhận đủ 714 kg cocain từ các tàu cao tốc, Ramon Gil cùng một người Thụy Điển và một người Ý điều khiển chiếc thuyền dài 14m quay lại Galicie.

Tuy nhiên, ngày 31/3, khi còn cách quần đảo Canaries của Tây Ban Nha 800 hải lý, bọn chúng đã bị lực lượng hải quân biên phòng Tây Ban Nha phát hiện.

Với hơn 44 tấn cocain bị bắt giữ, chiếm 60% lượng ma túy bị bắt giữ trên toàn châu Âu (năm 2003), Tây Ban Nha được xếp hàng thứ ba về lượng cocain bị bắt giữ trên toàn thế giới, chỉ sau Mỹ và Colombia.

Tình hình nghiêm trọng đến nỗi Santiago Astudillio, một chỉ huy của Đội đặc nhiệm Geos, quả đấm chính của Lực lượng bài trừ ma túy Tây Ban Nha, đã khẳng định: “Ma túy tràn ngập vùng biển Tây Ban Nha không còn là phần nổi của tảng băng như nhiều người đánh giá, mà là cả một tảng băng đang lộ nguyên hình”.

“Siêu xa lộ”

Vào những năm 1994 - 1995, khi bị đánh nát bởi những chuyên án liên tục được mở ra của Bộ Nội vụ Tây Ban Nha, các tập đoàn buôn lậu ma túy Nam Mỹ phải án binh bất động. Chúng để các băng nhóm buôn lậu ma túy gốc châu Âu đứng ra đảm nhận việc vận chuyển hàng trắng từ Nam Mỹ đến Tây Ban Nha thông qua phương thức mua đứt bán đoạn, điển hình là băng nhóm của Ramon Gil.

Từ giữa năm 2003, các tập đoàn buôn lậu ma túy Colombia đã tự mở ra tuyến đường vận chuyển mới trên biển để nắm toàn quyền việc kinh doanh ma túy ở châu Âu bởi chúng cho rằng mua đứt, bán đoạn này chỉ tổ làm giàu cho các băng nhóm buôn lậu ma túy ở châu Âu. Cung đường vận chuyển mới trên biển này, có tên gọi "siêu xa lộ", được chia thành 2 giai đoạn và lấy vùng biển phía đông quần đảo Cap Vert ở Đông Phi làm cột mốc.

Ở giai đoạn đầu, ma túy thay vì được vận chuyển từ các cảng Barranquilla, Carthagene hay Santa Marta của Colombia như trước đây thì nay được bí mật đưa đến các đảo ngoài khơi Venezuela như Sainte Lucie, Margarita hay Santa Cruz bằng các phương tiện như máy bay nhỏ và thuyền cao tốc. Tại đây, hàng sẽ được chuyển lên các tàu gỗ, và một thủy thủ đoàn gồm 8 người, toàn là thành viên của các tập đoàn buôn lậu ma túy Colombia áp tải. Đích đến của các tàu này là ngoài khơi quần đảo Cap Vert ở Đông Phi.

Tại Cap Vert lại có các tàu đánh cá ngụy trang của các băng nhóm buôn lậu ma túy người Galicie đang đợi sẵn để tiếp nhận hàng rồi chuyển về Tây Ban Nha. Thanh tra Antonio Vasquez, một chỉ huy khác của Đội đặc nhiệm Geos cho biết: “Bọn chúng giao nhận hàng với nhau trên biển thông qua việc liên lạc bằng điện đàm trên tần số đã giao ước từ trước để xác định loại tàu, tọa độ và mật khẩu. Tất cả đều diễn ra vào ban đêm và được thực hiện một cách nhanh chóng”.

Giai đoạn hai của "siêu xa lộ" trên biển này kéo dài từ Cap Vert đến ngoài khơi vùng biển Galicie của Tây Ban Nha. Các tàu cao tốc có gắn máy công suất đến 300 mã lực xuất phát từ nhiều điểm trên bờ biển Galicie sẽ làm nhiệm vụ cõng hàng từ tàu mẹ đến các kho hàng trên bờ. Nơi đó có thể là một cái hang dọc theo bờ biển, một trang trại bỏ hoang hay một biệt thự nằm không xa bờ biển. Xong công đoạn này, ma túy lại được các băng nhóm mafia địa phương chuyển sâu vào lãnh thổ Tây Ban Nha, dưới sự giám sát của tay chân các ông trùm người Colombia, trước khi phân phối khắp châu Âu.

Thanh tra Antonio Vasquez nói: “Giờ đây, bọn tội phạm người Colombia đứng ra điều hành công việc buôn lậu ma túy từ A đến Z và chỉ để cho các băng nhóm mafia địa phương làm nhiệm vụ vận chuyển từ vùng biển quốc tế vào các kho hàng trên đất liền để được hưởng 27% trên giá trị của lượng hàng vận chuyển trót lọt. Hiện có từ 60 đến 70 băng nhóm buôn lậu ma túy gốc Nam Mỹ, đa phần là người Colombia, đang cắm chốt ở vùng Galicie và các thành phố lớn khác của Tây Ban Nha. Bọn chúng gồm các tên đại diện, các tên môi giới và các tên chuyên giao dịch với các băng nhóm tội phạm người địa phương. Việc tổ chức hoạt động theo kiểu bậc thang này đã khiến cho chúng tôi khó lần ra được toàn bộ đường dây dù tóm được một tên trong bọn. Điều này gây không ít khó khăn cho nhiệm vụ bài trừ ma túy của chúng tôi”.

Để băm nát và phá tan "siêu xa lộ" vận chuyển ma túy trên biển của các tập đoàn buôn lậu ma túy Colombia, các lực lượng bài trừ ma túy Tây Ban Nha không áp dụng chiến thuật chặn bắt gần bờ biển Tây Ban Nha như trước đây mà tung lực lượng đi xa trên biển, mai phục dọc theo "siêu xa lộ" rồi vồ từng con mồi. Kết quả là hàng chục con tàu vận chuyển ma túy đã bị bắt giữ, trong đó có những "con cá mập" như tàu South Sea 1 mang trong hầm tàu đến 6,4 tấn cocain, tàu Caridace mang theo 3,6 tấn cocain, tàu Cork mang theo 3,3 tấn...

Số lượng ma túy bị bắt giữ tăng cao đã khiến bọn vận chuyển nhận được lệnh phải chống trả tới cùng để bảo vệ hàng. Chỉ từ giữa năm 2003 đến giữa năm 2004, đã có 6 nhân viên bài trừ ma túy, trong đó có ba đội viên Geos bị thiệt mạng và bị thương nặng khi trấn áp các tàu vận chuyển ma túy. Thậm chí có cả một đội viên Geos bị các tên tội phạm bắt giữ làm con tin trên tàu Irene trong suốt 72 tiếng đồng hồ trước khi được đồng đội giải thoát.

Cho đến nay, khó có thể khẳng định liệu nạn "thủy triều trắng" trên vùng biển Tây Ban Nha có bị chặn đứng được hay không, bởi số lượng ma túy bị bắt giữ trong thời gian vừa qua chắc chắn còn thấp so với thực tế. Thế nhưng theo nhận định của thanh tra Vasquez thì: “Chúng tôi sẽ nỗ lực hết mình để ngăn chặn loại tệ nạn này, bởi vì chính thanh thiếu niên Tây Ban Nha sẽ là nạn nhân trực tiếp của ma túy từ Nam Mỹ tuồn vào Tây Ban Nha trước khi phân phối khắp châu Âu. Một ngày không xa, chúng tôi sẽ xóa sạch vết tích của "siêu xa lộ" vận chuyển ma túy của bọn tội phạm trên Đại Tây Dương"


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

9 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:57 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Cựu Chủ tịch Tập đoàn Hollinger International "chôm" gần nửa tỷ USD



Conrad Black (60 tuổi), từng được mệnh danh là “Tiểu Murdoch” đã bị tố cáo chiếm đoạt 400 triệu USD công quỹ của tập đoàn truyền thông lớn thứ 3 thế giới này. Số tiền chiếm tới 95,2% tổng lợi nhuận của tập đoàn trong suốt thời gian ông Conrad Black đương chức.

Sinh ra trong một gia đình giàu có ở Canada, bố Conrad Black từng là tổng giám đốc tổng công ty rượu bia lớn nhất Canada. Năm 1985, Conrad Black bắt đầu tiên nổi lên trong làng truyền thông quốc tế khi ông ta gần như mua đứt tờ báo lâu đời nhất nước Anh, tờ Daily Telegraph. Năm 1989, Black lại mua 80% cổ phiếu của tờ báo lớn nhất Trung Đông, tờ Bưu điện Jerusalem của Israel và chính thức cho thành lập Tập đoàn Xuất bản truyền thông Mỹ, năm 1990 đổi tên thành Tập đoàn Hollinger International (HI).

Năm 1995, Tập đoàn HI đã nắm trong tay 105 tờ nhật báo của Mỹ, trong đó có tờ nhật báo Chicago Sun Times mỗi số phát hành 480.000 bản, đứng thứ 8 về lượng phát hành tại Mỹ. Trong lĩnh vực kinh doanh báo chí, Conrad Black đã lập kỷ lục khi mua đi bán lại gần 700 tòa báo lớn nhỏ trên khắp thế giới.

Năm 1999, Chính phủ Anh đã trao tặng tước hiệu Sir “Quý tộc suốt đời” cho Conrad Black, nhưng khi đó Thủ tướng Canada căn cứ vào luật pháp Canada đã ngăn cản Conrad Black nhận danh hiệu này. Corad Black đã không chút nuối tiếc vứt bỏ quốc tịch và hộ chiếu Canada, bán hết số cổ phần cùng hãng truyền thông tại Canada để nhập quốc tịch Anh, sau đó là Hoa Kỳ.

95,2% lợi nhuận chui vào túi ông Chủ tịch

Ngày 31/8/2004, Ủy ban đặc biệt của Hội đồng cổ đông tập đoàn này đã gửi một bản báo cáo dài 500 trang lên Ủy ban Giao dịch chứng khoán Mỹ (SEC) và Tòa án Liên bang ở địa phương tố cáo hành vi tham nhũng của Conrad Black. Bản báo cáo nêu rõ: Ông Conrad Black cùng một số nhân viên quản lý cao cấp khác đã dùng nhiều thủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt 400 triệu USD trong công quỹ của Tập đoàn HI.

Trên thực tế, công việc điều tra về thu nhập của Conrad Black đã sớm được tiến hành từ tháng 6/2003. Vào tháng 11/2003, do bị nghi ngờ dính dáng đến việc tham ô khoản tiền 30 triệu USD công quỹ nên Conrad Black đã bị buộc phải từ chức Tổng giám đốc và Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn HI.

Một trong những trợ thủ tham nhũng đắc lực của Conrad Black chính là David Ladel, Giám đốc phụ trách kinh doanh Tập đoàn HI. Hai nhân vật này đã bí mật móc ngoặc với nhau để bòn rút tiền của tập đoàn với nhiều thủ đoạn tinh vi trong suốt 3 năm, từ năm 2001 đến 2003. Ngoài ra, người liên đới trách nhiệm rất lớn trong vụ tham nhũng này còn có Paul Richard, Ủy viên Hội đồng Quản trị Tập đoàn HI. Ông này được Hội đồng Quản trị giao việc giám sát các khoản chi nhưng không hiểu sao thường rất qua loa đại khái đối với các văn bản giấy tờ chi tiêu tài chính nên đã nhiều lần hạ bút ký liều, tạo điều kiện cho tham nhũng xảy ra.

Nguyên nhân của vụ này còn có sự giúp sức đắc lực của Ủy ban Kế toán Tập đoàn HI. Kết quả điều tra của Hội đồng Giao dịch chứng khoán thuộc Tập đoàn HI cho thấy, ủy ban này đã làm việc sơ suất, kém hiệu quả trong suốt một thời gian dài. Tuy nhiên, các sai sót của bộ phận kế toán đều do Conrad Black và đồng bọn che giấu và cố ý chỉ đạo, họ che đậy rất nhiều khoản thu quan trọng.

Hội đồng Quản trị còn phát hiện Tổng giám đốc Conrad Black và một số nhân viên quản lý cao cấp khác đã tự ý chia khoản “thù lao” là phí đầu tư cạnh tranh của tập đoàn trị giá hơn 32 triệu USD mà không được phép của Hội đồng Quản trị. Trong vụ này, Conrad Black và Ladel mỗi người bỏ túi 10,2 triệu USD. Vào quý 3/2003, Conrad Black cũng đã ăn chặn 8,9 triệu USD từ khoản thu tái bản cuốn hồi ký của cựu Tổng thống Mỹ F.Roosevelt.

Từ năm 2001 đến 2003, Tập đoàn HI đã phải chi hơn 30 triệu USD cho các chi phí cá nhân của gia đình Conrad Black và Ladel dưới danh nghĩa công tác phí, trong đó đáng kể là khoản chi 26 triệu USD để thuê hai chuyến chuyên cơ sang Anh cho hai gia đình và 390.000 USD tiền du lịch mua sắm ở đây.

Để tổ chức sinh nhật cho vợ mình, Chủ tịch Conrad Black đã lấy danh nghĩa tập đoàn đặt tiệc tại một khách sạn sang trọng nhất ở New York và chỉ trong một tối đã ngốn hết 42.870 USD. Mặc dù vợ Black không hề đảm nhận một chức vụ gì trong Tập đoàn HI, thế nhưng mỗi năm vẫn được nhận mức lương 1,1 triệu USD.

Hóa đơn thanh toán chi phí cho gia đình ông chủ tịch còn có nhiều khoản chi rất nực cười chứng tỏ lòng tham vô đáy của ông như chi cho bà chủ mua túi xách hết 2.463 USD, vé xem opera 2.785 USD, tiền bảo dưỡng xe riêng hết 90.000 USD, tiền nước giải khát cho kỳ nghỉ hè hết 24.950 USD... Không những thế, ngay cả đến tiền “boa” mà bà vợ Black cho các cô nhân viên bán hàng cũng là tiền của tập đoàn.

Trong bản báo cáo này còn đề cập tới một nhân vật nổi tiếng khác là cựu Ngoại trưởng Mỹ - tiến sĩ Henry Kissinger. Ông cũng là thành viên danh dự của Hội đồng Quản trị Tập đoàn HI, Conrad Black đã từng 3 lần dùng tiền công quỹ mở tiệc thết đãi gia đình Henry Kissinger với tổng số tiền lên tới 248.480 USD


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

10 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:58 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Những trận đấu “đen” của tay đấm Thomas Williams



Cựu vô địch Thế vận hội Oscar de la Hoya, Thomas Williams cùng ông bầu Robert Mittleman (61 tuổi) từng phải ra hầu toà về tội danh thông đồng hối lộ trong thể thao khi liên kết với nhau để dàn xếp kết quả những trận so găng đỉnh cao.

Để thực hiện trót lọt nhiều vụ mua tỉ số, họ đã hối lộ một công tố viên và thẩm phán cốt cán của Mỹ bằng số tiền lên đến hàng chục ngàn USD để mua sự im lặng.

Công việc làm ăn có vẻ như đang thuận buồm xuôi gió thì Mittleman nhận được tin võ sĩ Thomas Williams bị bắt tạm giam do lời tố nặc danh về việc cáo nhận tiền dàn xếp kết quả. Trò sa bẫy thì trước sau gì “thầy” Mittleman cũng bị sờ gáy.

Mittleman lập tức liên lạc với một nhân viên tay trong ở Las Vegas và ngỏ ý sẽ trả một số tiền được đảm bảo chẳng ít chút nào cho các nhân viên công tố, thẩm phán Mỹ để ông được vô tội. Số tiền mặt mà ông trùm đường dây dàn xếp trận đấu Mittleman ứng trước cho giới công lực khoảng 5 nghìn USD. Mọi nỗ lực chạy tội của Mittleman vô ích và ông ta bị bắt ngay sau đó không lâu.

Trước cơ quan pháp luật Mỹ, Mittleman đã thừa nhận từng sắp xếp cho Thomas Williams thua trận trước võ sĩ Brian Nielsen có trình độ kém hơn hẳn ở Đan Mạch ngày 31/3/2000 theo yêu cầu của Mogens Palle, một nhà tài trợ kiêm tổ chức các trận so găng quyền anh ở Đan Mạch. Trả công cho việc thực hiện kịch bản này, Palle đã chi 40 nghìn USD. Mittleman nhận được số tiền hoa hồng khá khiêm tốn 1 nghìn USD.

Vụ thứ hai vào tháng 6/2000, nhà tổ chức Robert Michell đã mua chuộc Mittleman và yêu cầu ông sắp xếp cho Williams thua trận trước Richie Melito ở sàn đấu nổi tiếng Las Vegas. Màn kịch hơi lộ liễu ở chỗ Williams chịu thất bại ngay ở vòng đấu đầu tiên. Trước khi bước lên xe ra về, Thomas Williams được trả công 15 nghìn USD, riêng ông bầu Mittleman được 1 nghìn USD.

Mittleman sẽ bị kết án trong thời gian tới sau khi các nhà chức trách thu thập đủ bằng chứng phạm tội. Hình phạt có thể là 5 năm tù cùng số tiền phạt khá lớn. Trong lúc tại ngoại chờ đến phiên xét xử, Mittleman còn được yêu cầu ra làm nhân chứng cho vụ xét xử tay đấm Thomas Williams và Giám đốc Robert Michell


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

11 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:59 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Những cuộc thoát hiểm của “Bố già” cuối cùng tại Pháp



Bị đồng đảng “tặng” cho 22 viên đạn vào người nhưng Jacques Imbert vẫn không chết mà gây ra cuộc chiến giữa các băng mafia trên đất Marseille, Pháp. Sau nhiều năm xưng hùng xưng bá, “Bố già” cuối cùng tại Pháp đang phải đối mặt với sự trừng trị của pháp luật.

Trong khi những tên mafia sừng sỏ khác như Francis Vanverberghe (tức “Người Bỉ”), Antoine Guérini, Gaetan Zampa (tức “Tani”), Jean-Louis Fargette - lần lượt ra đi thì chỉ có Jacques Imbert hay “Jacky le Mat” là sống sót. Ông ta luôn biết cách thoát khỏi các tình huống hiểm nguy.

Cảnh sát bắt đầu lập hồ sơ về “Jacky le Mat” từ ngày 10/10/1967. Hồ sơ của Đội Cảnh sát quốc gia nghiên cứu tội phạm cho biết, ông ta đã 3 lần mang án vì tội ăn cắp, sở hữu vũ khí và hoạt động môi giới mại dâm. “Le Mat”, theo tiếng lóng của bọn mafia, có nghĩa là “người thoát khỏi sổ đoạn trường”. Jacques Imbert được lòng phụ nữ, ông ta đã qua 2 đời vợ và có ít nhất 6 cô nhân tình.

Năm 1962, Jacques Imbert bắt cóc Raymond Infantes, kẻ được mệnh danh là vua tổ chức mại dâm ở Oran (Algérie), và lái máy bay đưa người này đến Marseille. Tại đây, sau một hồi “bàn luận”, cuối cùng Infantes chấp nhận trả cho “Jacky le Mat” 50 triệu franc. Vào thời đó, “Le Mat” là phó tướng của “một băng nhóm gồm 20 tên người Marseille”, do Gaetan Zampa (tức “Tani”) lãnh đạo.

Lúc đó Zampa và “Le Mat” như một cặp “sinh tử có nhau”. Hai người đàn ông này gặp nhau năm 1958 ở Marseille và thành một êkíp vào giữa thập niên 60. Năm 1967, "bố già" thành phố Marseille là Antoine bị êkíp này giết chết. Cảnh sát nhìn thấy ở đó dấu hiệu của “Jacky le Mat”.

Ở miền Nam Pháp, cặp bài trùng Zampa-Imbert kiểm soát mọi hoạt động tội ác: bắt cóc tống tiền, mại dâm, hộp đêm, thanh toán lẫn nhau. Chỉ có một tay anh chị trẻ tuổi - Francis Vanverberghe, tức “Người Bỉ” - dám thách thức họ. Cuộc đối đầu đẫm máu giữa hai phe diễn ra tàn khốc nhất vào năm 1973 tại quán bar Tanagra ở Marseille, và chỉ chấm dứt khi cảnh sát tóm cổ “Người Bỉ”.

Quan hệ giữa Zampa - “le Mat” ngày càng phức tạp hơn. “Le Mat” chỉ là một kẻ lệ thuộc vào Zampa nên “le Mat” muốn hạ thủ Zampa và sau đó Zampa bắt đầu trả đũa. Ngày 1/2/1977, 3 người đàn ông đón lõng Imbert ngay trước nhà ông ta ở Cassis, gần Marseille. Các nhà điều tra phỏng đoán đó là Zampa, kèm theo Pierre Roche và Gaby Régazzi. Các bác sĩ đã lấy ra 22 viên đạn từ thân thể của Imbert. Cuộc tấn công này đã để lại di chứng cho Imbert: cánh tay phải bị liệt.

Sau đó ông ta lui về Paris và rắp tâm trả thù. 11 tên mafia bị giết chết, trong đó Gaby Régazzi bị giết ngay tại nghĩa trang nơi mà hắn thường lui tới mỗi tuần để thăm mộ đứa con trai. Tháng 11/1977, Imbert bị cảnh sát bắt ngay trên đại lộ Michelet ở Marseille, khi đang trên đường đi giết một người thân của Zampa. Vụ này làm “le Mat” phải ngồi tù 6 tháng. Cuộc chiến kết thúc khi “le Mat” vào tù, có lẽ hai phe đều cho rằng thương tổn của cả hai đã quá nhiều. Jacques Imbert chuyển sang vùng Caraibes, Florida, Ý, sống trong các biệt thự với thú vui thuyền buồm.

Đến thập niên 80, Imbert trở lại Paris và lao vào làm ăn, kiếm được 3.000 Euro/tháng. Đương nhiên là không bằng chính sức lao động của mình. Nhưng cảnh sát không bao giờ rời mắt khỏi Jacques Imbert. Năm 1988, ở Saint-Germain-des-Prés diễn ra một cuộc họp phân chia lãnh địa hoạt động giữa các "bố già" mafia Pháp, trong đó có Francis Vanverberghe “Người Bỉ” và Roland Cassone. Sau cuộc họp này, Imbert trở lại Marseille, lập bản doanh ở vùng đảo Frioul, đầu tư vào xưởng đóng tàu và gặp gỡ các phóng viên nhà báo.

Nhưng cảnh sát đã không “bỏ rơi” Imbert. Họ nghi ngờ ông ta có liên quan đến hàng chục vụ giết người và buôn lậu uranium. Tháng 11/1993, Jacques Imbert bị bắt giữ. Năm 1995, “Le Mat” được trả tự do do không đủ chứng cứ buộc tội!

Năm 1997, Imbert rời đảo Frioul và đến ở Marseille.

Cuối cùng, tháng 11/2004 Jacques Imbert lại phải ra tòa và lần này “Bố già” một thời


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

12 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 10:59 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Dùng ngòi bút phanh phui đường dây rửa tiền đa quốc gia



Với sự giúp đỡ của một số nhân viên ngân hàng, Denis Robert, nhà báo của nhật báo Libération của Pháp đã khám phá ra một đường dây rửa tiền quốc tế. Vượt qua bao sự đe dọa, mua chuộc, cuối cùng nhà báo dũng cảm này đã đưa được những kẻ tội phạm ra Toà.

Trên bình diện quốc tế, cùng với Công ty Tài chính Euroclair có văn phòng đặt tại thủ đô Bruxelles của Bỉ, Clearstream - một công ty tài chính quy mô, có văn phòng đặt tại Công quốc Luxembourg, được xem là đầu mối trung gian thanh toán quốc tế giữa các ngân hàng, công ty tài chính trên thế giới.

Điểm đáng chú ý là, tuy Clearstream có hệ thống chân rết khắp 100 quốc gia trên thế giới nhưng lại ít có quan hệ thanh toán với các ngân hàng ở châu Phi, nhưng tại đảo quốc Cayman, vốn được Interpol đánh giá là thiên đường tẩy tiền bẩn, Clearstream lại có quan hệ với 300 ngân hàng đặt văn phòng ở đây.

Mùa hè năm 1999, Denis Robert, gặp gỡ bí mật với Ernest Backes, nguyên Trưởng phòng Thanh toán quốc tế của Clearstream. Cuộc điều tra âm thầm của nhà báo Denis Robert và Ernest Backes có sự giúp đỡ của Regis Hempel, người phụ trách công việc thanh toán quốc tế của Clearstream kể từ khi Ernest Backes bị sa thải vào năm 1997.

Nhờ có tài liệu của Regis Hempel và Ernest Backes mà Denis Robert phát hiện ra trong tổng số 153 triệu món tiền thanh toán của Clearstream vào năm 2000, đã có đến 708.500 món mang dấu vết của tiền bẩn. Đó là những món tiền thanh toán từ một ngân hàng ở Thủ đô Vaduz của Công quốc Liechtenstein đến một ngân hàng nhỏ ở thành phố Georgetown của Mỹ rồi chuyển tiếp đến một ngân hàng ở thành phố Medellin của Colombia mà chắc chắn là của một đường dây buôn lậu ma túy từ Nam Mỹ vào châu Âu.

Đó còn là những món thanh toán của Clearstream đến Ngân hàng Rivunion, vốn dính dáng tới vụ tham nhũng ở Tập đoàn Dầu khí ELF của Pháp, rồi chuyển tiếp đến một tài khoản bí mật mở tại một ngân hàng ở thành phố Lausanne của Thụy Sĩ... Theo kết quả điều tra của Denis Robert, chỉ trong năm 2000 đã có gần 10 tỉ USD tiền bẩn được thanh toán qua Clearstream.

Vào tháng 3/2001, sau gần hai năm điều tra, nhà báo Denis Robert cho tung ra một cuốn sách có tựa đề Tiết lộ về những đồng tiền vấy bẩn và một cuốn phim tài liệu có tựa đề Những giấu giếm tội lỗi. Ngay lập tức, Denis Robert bắt đầu lãnh những đòn phản công do Clearstream giật dây.

Báo Le Monde của Pháp trong bốn số liền đã chỉ trích Denis Robert là nhà báo dựng đứng một chuyện hoang đường để bôi nhọ thanh danh của một công ty tài chính làm ăn chân chính. Ngoài ra, Clearstream còn gây áp lực buộc kênh truyền hình Canal Plus của Pháp không phát cuốn phim tài liệu Những giấu giếm tội lỗi.

May thay Canal Plus vẫn kiên trì cho phát được nhiều buổi trước khi nhận được lệnh phải tạm dừng. Bản thân Denis Robert và gia đình luôn nhận được những lời đe dọa nặc danh liên quan đến an toàn sinh mạng. Có lần chiếc xe của Denis Robert đã bị tháo ốc bánh sau để gây tai nạn.

Không nản lòng trước những chống trả quyết liệt của Clearstream, vào tháng 3/2002, Denis Robert tiếp tục tung ra cuốn sách thứ hai có tựa đề Chiếc hộp đen, trong đó nêu rõ sự dính dáng của Clearstream vào những bê bối về tài chính quốc tế có liên quan đến tiền bẩn như vụ tham nhũng tại Tập đoàn Dầu khí ELF của Pháp, những vụ thanh toán tiền bẩn từ các thương vụ mua bán kim cương ở Liberia từ châu Âu, Bắc Mỹ đến Thụy Sĩ và ngược lại, những vụ chuyển tiền mờ ám của tỉ phú người Nga Khodorkhovski, những đường dây quyên góp tiền của tổ chức khủng bố quốc tế Al-Qaeda...

Cuốn sách này khi phát hành đã gây nên một “cơn địa chấn” ở châu Âu. Các nghị sĩ của Quốc hội Liên minh châu Âu yêu cầu Chính phủ Luxembourg phải điều tra những hoạt động tài chính mờ ám có liên quan đến việc tẩy tiền bẩn của Clearstream.

Tháng 6/2002, Thủ tướng Jean Claude-Juncker giao cho các cơ quan bảo vệ pháp luật Luxembourg tiến hành điều tra hoạt động của Clearstream. Sau 6 tháng điều tra, những hoạt động tài chính có liên quan đến việc tẩy tiền bẩn của Clearstream đã được làm sáng tỏ. Tháng 3/2003, Chủ tịch Clearstream là André Lussi cùng 4 thành viên trong ban lãnh đạo đã bị cách chức và truy tố về các tội tổ chức tẩy tiền bẩn có hệ thống trong thời gian dài; lừa dối và giả mạo tài liệu.

Mãi đến tháng 7/2004, Chủ tịch mới của Clearstream, mới công khai thừa nhận những gì mà Denis Robert nêu ra trong hai quyển sách và cuốn phim tài liệu của anh là hoàn toàn đúng sự thật, và tuyên bố sẽ khắc phục những sai lầm mà ban lãnh đạo trước đây của Clearstream gây ra


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

13 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:00 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Ai đưa tập đoàn mại dâm “Cô gái Kniss” ra ánh sáng?



Nhân viên của tập đoàn này là những người mẫu, minh tinh màn bạc, người dẫn chương trình của một số hãng truyền hình danh tiếng. Khách hàng ruột của họ là những chính khách, thương gia và giới văn nghệ sĩ nổi tiếng thế giới. Giá mỗi lần “đi khách” là 4.000 bảng Anh!

Theo tờ Tin tức thế giới của Anh, hiện FBI và Cảnh sát Anh đang điều tra tập đoàn mại dâm quốc tế có tên gọi “Cô gái Kniss”, chuyên cung cấp “hàng cao cấp” cho những nhân vật đặc biệt trên thế giới. Điều đáng nói là người lập công đầu trong việc phát hiện ra tập đoàn này là phóng viên của tờ Tin tức thế giới. Theo những tài liệu, chứng cứ do phóng viên trên cung cấp, Cảnh sát Anh và FBI đã bắt giữ một số nhân viên của tập đoàn này.

Xâm nhập đường dây của “cô gái Kniss”

Sau nhiều tháng trời lang thang dưới danh nghĩa một thương gia Arập giàu có, phóng viên tờ Tin tức thế giới đã tìm đến Chris, một đại lý của tập đoàn mại dâm quốc tế ở London. Qua người này, phóng viên đã làm quen và tạo được sự tín nhiệm của Michel Blown, “má mì” của tập đoàn kể trên.

Michel Blown hiện là một trong những người giàu có và khá nổi tiếng ở thành phố Los Angeles, Mỹ. Cũng qua tiếp xúc với Chris, phóng viên mới biết tên của tập đoàn mại dâm quốc tế là “Cô gái Kniss”. Được biết, “Cô gái Kniss” có rất nhiều đại lý nằm rải rác khắp châu Âu và mọi nhu cầu của khách hàng đều được kiểm tra, đáp ứng thông qua những đại lý sở tại.

Người mà Chris giới thiệu cho phóng viên là một mỹ nhân vốn là người dẫn chương trình của BBC, hãng truyền hình nổi tiếng của Anh. Chris cho biết, để đảm bảo an toàn cho cả hai bên và tránh những cặp mắt tò mò, phóng viên phải mua vé máy bay và đặt phòng cho mỹ nhân bằng tên của cô ta, sau đó bay đến điểm hẹn một mình và hai người sẽ gặp nhau vào ban đêm tại phòng của phóng viên.

Khi phóng viên hỏi tại sao phải làm như vậy thì Chris giải thích, nhân viên và đa số khách hàng của “Cô gái Kniss” đều là những nhân vật nổi tiếng nên họ rất sợ bị theo dõi, phát hiện. Do đó, tiền bạc không thành vấn đề, quan trọng nhất là phải an toàn. Chris còn cho biết, thời gian gần đây không dám liên lạc với Michel Blown vì biết cơ quan chức năng đang theo dõi.

Lộ chân tướng

Theo người phát ngôn của FBI, với những chứng cứ hiện có (băng ghi âm, ảnh chụp) thì "cô gái kniss" là một tổ chức mại dâm quốc tế lớn cả về quy mô, mức độ, số người tham gia, cùng số tiền lên tới hàng chục triệu USD cho một ngày "giao dịch". Hiện tên tuổi của những gái mại dâm và khách hàng của “Cô gái Kniss” vẫn được giữ kín.

Cũng theo FBI, Michel Blown hành sự rất cẩn trọng - hầu hết khách hàng chỉ biết đến “Cô gái Kniss” qua truyền khẩu và chỉ những người nào đã qua kiểm duyệt mới được vào trang web bí mật của Michel Blown. Sau khi khách hàng chọn được người ưng ý, họ sẽ được hướng dẫn tiếp về địa điểm, thời gian, cách thức gặp gỡ, cũng như giá cả phải trả cho cuộc vui của mình. Cụ thể, ngoài việc trả 40.000 bảng Anh/đêm cho Michel Blown hoặc đại lý, khách hàng còn phải bỏ tiền vé máy bay (2 chiều) cùng toàn bộ chi phí đi lại, ăn ở tại khách sạn 5 sao. Những địa điểm thường được lựa chọn là Caribbean Sea, Dubai, Mauritius và một số khu vực nhiệt đới khác. Họ chọn những địa điểm này bởi đây vừa là nơi thường lui tới của giới sành điệu, vừa dễ ngụy biện khi bị ai đó phỏng vấn.

Tính đến thời điểm bị phát hiện, Michel Blown có 4 át chủ bài trong tay. Thứ nhất, mỹ nhân dẫn chương trình của Hãng Truyền hình BBC nổi tiếng của Anh. Người này năm nay 30 tuổi, tóc vàng, mắt xanh, thân hình thon thả, dáng thướt tha. Thứ hai, một minh tinh màn bạc với nước da màu nâu, gần 30 tuổi. Thứ ba, người mẫu, tóc vàng, mắt xanh, mới ngoài 20 tuổi, rất thích qua đêm với những phú ông giàu có. Thứ tư, một cựu người mẫu Anh, đã lập gia đình, gần 30 tuổi, rất thích quan hệ với những người có tên tuổi trong giới văn nghệ sĩ.

Được biết trong danh sách của “Cô gái Kniss” có nhiều mỹ nữ vừa nổi tiếng xinh đẹp, thành đạt, vừa giàu có. Trong số này có người mẫu nổi tiếng Sophia Anderton (Sophia Anderton đã không ở “Cô gái Kniss” nhiều tháng nay). Qua sự dắt mối của Chris, hồi tháng 1/2004, Sophia Anderton đã đồng ý tới Florence, Italia để qua đêm với một thương gia nước này với mức thù lao 5.000 bảng Anh! Nghe nói, sở dĩ khi đó Sophia Anderton chấp nhận “đi khách” vì cô ta đang thất tình!

Người dân Anh từng bàng hoàng trước vụ bắt giữ Margaret McDonald, 44 tuổi, công dân Anh, chủ đường dây cung cấp gái gọi cao cấp lớn nhất thế giới bị Cảnh sát Pháp bắt ở thủ đô Paris (14/5) và bị tuyên án 4 năm tù (23/10). Margaret McDonald quản lý tới 450 gái gọi với đủ quốc tịch, màu da và tuổi tác (từ 18 đến 26), cùng một loạt đại lý nằm ở London, Paris, Vienna, Milano, New York... với phạm vi hoạt động trên khắp thế giới. Người dân London mới đây cũng bị sốc trước trang web của một gái gọi được biết dưới cái tên Belle de Jour.

Những gì Cảnh sát Anh vừa loan tải đã tạo nên một làn sóng bất bình mới trong xã hội. Dư luận cho rằng, một khi danh tính của những khách hàng và gái mại dâm kể trên được tiết lộ sẽ gây nên một vụ bê bối lớn


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

14 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:00 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Naples - thành phố của bạo lực và tội ác



Vittorio La Vecchia đang cắt khoai tây thì nhìn thấy một gã đàn ông bước vào nhà hàng và bắn 2 phát đạn vào đầu một thực khách. Nạn nhân Salvatore Peluso (51 tuổi), gục đầu ngay xuống đĩa bánh pizza nóng hổi, máu ướt đẫm cả đĩa thức ăn...

Đây là một trong những vụ thanh toán nội bộ đẫm máu của băng nhóm mafia Camorra xảy ra trong tháng 11 vừa qua tại thành phố cảng Naples, miền Nam Italia.

Camorra là băng nhóm đã có 2 thế kỷ tuổi đời, kiếm tiền bằng các vụ bắt cóc tống tiền và buôn ma túy. Cảnh sát thành phố này đánh giá nhóm Camorra kiếm được khoảng 4 tỉ euro (5,2 tỉ USD) trong năm nay thông qua trò bắt cóc tống tiền, cao hơn cả số tiền bất chính theo kiểu này của các nhóm mafia “hàng đầu” khác là Cosa Notra, Ndrangheta và United Holy Rosary.

Ở Naples, các cuộc chiến trong nội bộ hay sự tranh giành quyền kiểm soát các địa bàn hoạt động giữa các băng nhóm mafia (như nhóm Secondigliano và Scampia) xảy ra dai dẳng và liên tục

Những vụ bắn giết lẫn nhau xảy ra ngay giữa ban ngày trên các đường phố. Đôi khi nạn nhân bị tra khảo trước khi bị thủ tiêu, một số xác chết được “gói” trong các túi nilon, bị vứt trong xe hơi hoặc bị đốt cháy thành than!

Cảnh sát thành phố Naples thì luôn phải tìm hiểu xem những vụ giết người kế tiếp sẽ xảy ra ở đâu, chứ không phải khi nào, để có thể ứng phó bảo vệ người dân.

Ngoài ra, các nhóm nhỏ và độc lập thường cắt nhỏ thành phố ra để hoạt động và tình trạng tổ chức lỏng lẻo của chúng khiến cho cảnh sát gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu diệt chúng, đồng thời các nhóm này cũng gây ra những cái chết “bên lề” (nạn nhân chỉ là người dân thường).

Tháng 11 vừa qua, một cô gái 25 tuổi đang chơi bóng bàn với bạn bè thì bị kẻ lạ bắn gục. Gelsomina Verde (22 tuổi), bị giết vào cuối tháng 11, xác cô ta bị đốt cháy. Cảnh sát cho biết, Verde không phải là tội phạm nhưng có lẽ cô ta bị hạ sát bởi vì cô ta... là bạn của một tên mafia chính cống!

Thất nghiệp và phạm tội

Theo nhận định của Antonio De Jesu, lãnh đạo đơn vị phòng chống tội phạm của cảnh sát thành phố Naples, do tình trạng thất nghiệp ở Naples vào loại cao nhất châu Âu, nên nhóm mafia Camorra luôn thừa mứa các “lính mới” tiềm tàng. Và nếu như tỉ lệ 58,8% thanh niên thất nghiệp không được giảm xuống thì họ sẽ luôn nằm dưới sự kiểm soát của thế giới tội phạm.

Trong năm 2004, đã có hơn 11 nghìn vụ cướp xảy ra và cướp đi sinh mạng nhiều người hơn cả các vụ thanh toán đẫm máu của nhóm Camorra. Du khách được khuyên không nên đeo nữ trang trong thành phố.

Bạo lực và tội ác ngày càng tăng cao đến mức cảnh sát phải có biện pháp trừng phạt việc mua bán các loại dao nhằm hạn chế tội phạm. De Jesu cho biết, trường hợp một cô gái 15 tuổi thú nhận cha mình đã đi lùng và giết chết một người chỉ vì người này đã... ăn cắp chiếc xe gắn máy của cô con gái mình!

Hiện Cảnh sát Naples đang nỗ lực nâng cấp trung tâm kiểm soát bạo lực trong thế giới tội phạm của thành phố này. Màn hình phẳng khổng lồ ở trung tâm luôn hiển thị các hình ảnh quảng trường và đại lộ của thành phố. 102 camera hoạt động liên tục ngày đêm và có thể phóng to các bảng số xe và chụp ảnh bọn sát thủ tiềm tàng.

Mặc dù được công nghệ hiện đại hỗ trợ tích cực, nhưng cảnh sát Naples vẫn phải thừa nhận rằng họ khó có thể trấn áp được bọn tội phạm


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

15 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:00 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Những vụ mất tích bí ẩn ở Australia



Nữ du khách người Anh Melody O'Gara (28 tuổi), đã mất tích tại nhà người bạn ở gần bãi biển Bondi đầu tháng 11vừa qua. Cùng thời gian đó, ở Sidney, một thiếu nữ Australia tên là Melina Daubl cũng biến mất không dấu vết.

Các nhà điều tra cho rằng, Melody có thể đã tự sát vì người ta đã tìm thấy túi xách tay của cô vướng lại trên mép vách đá gần bờ biển Bondi! Nhưng vụ mất tích chưa giải thích được này đang gây hoang mang cho một số du khách Anh ở Sydney.

Cuối tháng 10/2004, người ta phát hiện thi thể của du khách tên là Ethel Hetherington (52 tuổi), đến từ Cumbria trong một vùng hẻo lánh cách khách sạn Uluru nơi bà đang trú ngụ khoảng vài km. Cảnh sát Australia còn đang xem xét về những gì đã xảy ra với bà Hetherington.

Có giả thuyết cho rằng, bà Hetherington chết do kiệt sức trước cái nóng thiêu đốt của sa mạc khi bà cố gắng đi bộ đến nơi cư ngụ của dân bản xứ. Tuy nhiên, các bi kịch và những vụ mất tích bí ẩn rõ ràng đang ảnh hưởng xấu và gây tâm lý hoang mang cho khách du lịch đến nước này.

Alan Collingwood, quan chức Cơ quan Du lịch Điểm gặp gỡ của du khách ở Sidney, cho biết: “Australia vẫn còn là điểm đến rất an toàn cho du khách nước ngoài. Và có lẽ Australia cũng được coi là sự lựa chọn an toàn nhất so với vùng Nam Mỹ và Nam Phi”.

Sự thật thế nào có lẽ còn phải xem xét lại? Trong thập niên 90, nước này đã từng xảy ra nhiều vụ du khách bị giết chết hoặc mất tích. Năm 1996, Ivan Milat - một trong những tên giết người hàng loạt nổi tiếng - đã phải ngồi tù vì tội giết chết 7 du khách trẻ tuổi nước ngoài.

Năm 2000, 15 du khách bị giết chết khi một gã côn đồ tấn công một khu nhà trọ ở Queensland. Tại miền Bắc Australia, một tên tội phạm đã bị cảnh sát tống giam vì tội giết chết du khách Anh tên là Peter Falconio, người đã mất tích ở Outback vào tháng 7/2001.

Những vụ án chưa tìm ra thủ phạm tuy không nhiều, nhưng chúng cũng đủ làm bối rối lực lượng cảnh sát Australia, cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến ngành Du lịch siêu lợi nhuận của nước này


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

16 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:01 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Rạng sáng 18/9/1966, tại biệt thự nhà Percy bên hồ Michigan, ngoại ô Chicago, cô con gái Valerie Jeanne bị đâm nhiều nhát, quằn quại chết trong đau đớn. Trong nhà không bị mất món đồ nào. Nhiều cuộc điều tra, truy tìm đã diễn ra nhưng gần 40 năm trôi qua, kẻ thủ ác vẫn ẩn mình trong bóng tối…

Valerie là con gái Charles Percy, thượng nghị sĩ Mỹ ở tuổi 47. Trước đó ở tuổi 30, ông đã là một triệu phú. Charles sống trong khu biệt thự rộng 3 mẫu ở Kenilworth, một nơi sống lý tưởng và sang trọng bậc nhất thời bấy giờ ở ngoại ô Chicago, với vợ và 5 người con, trong đó Valerie là chị em song sinh với Sharon, 21 tuổi. Trong suốt 75 năm kể từ ngày khu biệt thự Kenilworth được nhà tỉ phú Joseph Sears xây dựng, cho đến ngày Valerie bị giết hại chưa hề xảy ra bất kỳ vụ án mạng nào.

Đám tang của Valerie được đích thân Tổng thống Johnson đến viếng. Ông đã ra lệnh cho Cảnh sát Chicago phối hợp chặt chẽ với FBI để nhanh chóng tìm ra hung thủ. Và cũng chính Tổng thống Mỹ xuất hiện trên truyền hình, ban hành lệnh điều tra vụ án. Các thám tử nhà nghề là những người đầu tiên mà gia đình Percy trả công để tìm ra hung thủ. Họ đã khoanh vùng những đối tượng nghi vấn, trong số đó có bạn trai của Valerie và tình địch của cô, kể cả những mối tình thoáng qua của cô cũng được để ý. Kết quả chỉ là con số 0.

Ngay cả những người giúp việc trong gia đình đều bị thẩm vấn, trong đó nổi cộm là hai người hầu có mặt trong đêm xảy ra án mạng là Frederick Millington và Henry Witting, nhưng tất cả đều có chứng cứ ngoại phạm.

FBI còn cho rà lại cả những đối thủ chính trị của Charles và những người có quan hệ kinh doanh với ông. Nhưng tất cả mọi cố gắng đều vô ích. Quận trưởng Cảnh sát Chicago -Orlando Wilson đã treo giải thưởng 100.000USD cho bất kỳ ai cung cấp thông tin liên quan đến hung thủ vụ án Valerie.

Nhân chứng duy nhất

Vì hai chị em Valerie và Sharon giống nhau như hai giọt nước nên cha mẹ họ đã tìm mọi cách để phân biệt như không cho hai chị em mặc đồ giống nhau và ngủ riêng biệt. Cả hai đều tốt nghiệp Trường Joseph Sears Grade School ở Kenilworth năm 1958. Sau đó cả hai vào học trung học tại New Trier Highschool ở Winnetka, một vùng ngoại ô Chicago.

Sharon có người bạn trai là Jay Rockefeller - con trai một gia đình giàu sang và có địa vị xã hội. Có giả thuyết cho rằng, cái chết của Valerie có liên quan đến Sharon và Rockefeller bởi vì anh chàng này đã từng nhầm lẫn Sharon với Valerie trong khi say xỉn. Nhưng giả thuyết này nhanh chóng bị bác bỏ bởi các bằng chứng xác thực chứng minh sự ngoại phạm của Rockefeller.

Trở lại hiện trường vụ án, Loraine Percy - mẹ kế của Valerie cho biết: Vào đêm xảy ra án mạng, Valerie đã dùng cơm tối với bà cùng hai người bạn là James Mann và Tully Friedman. Sau đó Valerie đi ngủ lúc hơn 22 giờ. Khoảng 4 giờ 50 phút chủ nhật ngày 18/9/1966, Loraine choàng tỉnh vì nghe thấy tiếng kính vỡ phát ra từ phòng của Valerie, nhưng bà nghĩ chỉ là một sơ ý nho nhỏ như có ai làm vỡ một chiếc ly nào đó, nhưng 20 phút sau bà đã bị đánh thức một lần nữa bởi tiếng động lớn hơn.

Linh tính biết chuyện chẳng lành, bà ngồi dậy và tiến về phía phát ra tiếng ồn, đó là phòng của Valerie. Bà kinh hãi khi hé cửa nhìn vào phòng Valerie, một bóng đen cùng với một ánh sáng lóe lên, người Valerie nhuộm đỏ máu từ đầu đến chân. Kinh hoàng không thốt nên lời, bà chạy vội về hướng phòng bà và nhấn chuông báo trộm. Khi mọi người quay lại thì tên sát nhân đã biến mất để lại Valerie mình đầy máu nằm bất động trên sàn nhà.

Theo lời thuật của Loraine, hung thủ là một gã da trắng cao, có mái tóc nâu đen và mặc áo sơmi màu xanh, đeo kính cận. Ngay lập tức bản phác họa kẻ bị tình nghi trở thành chứng cứ đầu tiên để truy nã hung thủ.

Bản phác hoạ khuôn mặt kẻ bị tình nghi

Hung thủ trước khi hành động đã có sự tìm hiểu tường tận tất cả ngõ ngách trong khu biệt thự. Khám nghiệm tử thi cho biết Valerie bị đâm nhiều nhát dao từ đầu đến bụng. Ngoài ra hiện trường còn cho thấy dường như Valerie đã cố sức chống trả lại sự xâm hại tình dục của kẻ sát nhân. Giả thuyết được đưa ra: Kẻ sát nhân đã đột nhập vào ngôi biệt thự bằng đường cửa sổ sau khi cắt đi một lớp cửa kính để vào phòng Valerie. Mảnh kính rơi xuống sàn đã tạo ra tiếng động làm Loraine tỉnh giấc.

Các vật chứng khác được phát hiện là 1 cây búa, 1 dao cắt đa năng, vết tay trên cánh cửa phòng Valerie và những sợi tóc. FBI không loại trừ khả năng hung thủ đột nhập nhằm đánh cắp tài sản nhưng ngay khi bắt gặp Valerie xinh đẹp, dã tâm chiếm đoạt của hắn đã bị khơi dậy, nhưng vì bị Valerie phản kháng kịch liệt nên hung thủ đã ra tay sát hại Valerie. Hắn ta quá hoảng sợ khi nghe tiếng động từ bên ngoài nên chưa kịp vơ vét tài sản đã bỏ chạy thoát thân.

Bất chấp mọi cố gắng của nhà chức trách, hung thủ vụ án vẫn ẩn sau một tấm màn bí mật. Vụ án dường như chìm dần vào quên lãng, cho đến năm 1973, tạp chí Sun Times Chicago cho đăng một bài báo công bố kẻ sát nhân vụ trọng án Valerie chính là Frank Hohimer, 46 tuổi, người từng bị giam 20 năm ở nhà tù Denver Indianapolis vì tội trộm cướp.

Người tố cáo Frank là Harold, em trai của Frank, anh ta là người bán xe hơi cũ nghiện rượu và cờ bạc. Harold đã nói với tờ Sun Times là Frank đã thú tội với anh ta và Harold đã bán tin này cho tờ báo để nhận lấy 150.000 USD trang trải nợ nần cờ bạc. Tuy nhiên, Frank đã đề nghị một cuộc đối chất với Harold trong nhà tù dưới sự chứng kiến của cảnh sát Chicago và hai phóng viên của tờ Sun Times là Arthur Petacque và Hugh Hough. Frank liên tục khẳng định là mình vô can trong vụ giết hại Valerie, đồng thời hắn ta khai ra một kẻ tình nghi khác trong một tổ chức tội ác chuyên nghiệp, đó là Fred Malchow.

Kẻ tình nghi số một mãi mãi câm lặng

Theo điều tra của Sở Cảnh sát Chicago, năm 1970, một người bạn tù của Fred Malchow là Jimmy Evans ở nhà tù Pensylvania nói rằng, Malchow từng tiết lộ việc hắn đã giết chết Valerie. Lúc đầu hắn chỉ có ý định trộm tài sản nhà Charles nhưng khi phát hiện Valerie đang nằm ngủ, hắn đã xâm hại tình dục Valerie. Lúc đầu, Malchow tìm cách khống chế cô bằng một con dao, nhưng do Valerie chống cự nên Malchow đã ra tay. Jimmy Evans đã vượt qua máy kiểm tra nói dối. Cảnh sát đã thực hiện lệnh khám xét nhà Malchow. Họ tìm thấy vết máu được nghi là của Valerie, nhưng do vết máu được phát hiện khá lâu nên cho kết quả xét nghiệm không như ý.

Fred Malchow sinh năm 1927 ở vùng quê nghèo Buffalo. Hắn có một bề dày phạm tội đáng nể trên khắp các tiểu bang ở Mỹ, đã từng tham gia vào một vụ cướp ngân hàng ở New York do em trai hắn cầm đầu. Malchow có 1 người vợ chính đã chết và 3 con, vợ sau của hắn tên là Edna. Edna khai với nhà chức trách rằng, hôm xảy ra án mạng, Malchow đang ở chung với cô ta tại Mississippi. Edna đã qua đời trong một vụ tai nạn xe hơi khi đang trên đường đi đến tòa án làm chứng cho chồng.

Năm 1991, phóng viên kỳ cựu của tờ Sun Times John O'Brien và Ed Baumann xuất bản một quyển sách ghi lại những vụ án chưa được giải quyết ở Chicago. Trong đó có trường hợp của Valerie. Robert Lamb, điều tra viên trực tiếp vụ án nói rằng: "Cho đến ngày hôm nay, tôi tin rằng Fred Malchow là hung thủ thật sự của vụ trọng án, và hắn đã hành động một mình”.

Năm 1998, trong quyển sách nói về những sự kiện lịch sử đã qua của Sở Cảnh sát Kenilworth, họ tin rằng cả Malchow và Hohimer đều có liên quan đến vụ án mạng, tuy nhiên chưa có bằng chứng xác thực nào có thể chứng minh ai là hung thủ thật sự giết chết Valerie. Trong quá trình điều tra, Cảnh sát Chicago gặp rất nhiều khó khăn, nhưng trở ngại lớn nhất đối với họ là cái chết đột ngột của Fred Malchow trên đường vượt ngục


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

17 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:01 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Mục sư giết người diệt khẩu



Lợi dụng sự tin tưởng của các giáo dân, mục sư John Canning đã chiếm đoạt vài trăm ngàn USD. Trong một phi vụ như vậy, khi bị ông bà Leo Gleese - Hazel Gleese phát hiện, mục sư John Canning đã giết cả hai vợ chồng để bịt đầu mối.

Ngày 21/11/2003 tại nhà thờ chính của Sebring, một thành phố nhỏ ở bang Florida của Mỹ, dưới sự chứng giám của mục sư John Nelson Canning bà Hazel Gleese và ông Leo Gleese, cũng 84 tuổi đã tổ chức đám cưới. Bà Hazel vốn là giáo viên về hưu và từng sở hữu nhiều cửa hiệu làm tóc tại thành phố Miami trước khi đến thành phố Sebring vào năm 1987. Ông bà quen nhau qua mai mối của mục sư John Canning.

Chỉ năm tháng sau khi đám cưới của hai người ở tuổi gần đất xa trời, trưa ngày 6/4/2004, mục sư Canning hớt hải đến báo tin cho cảnh sát biết, mình vừa phát hiện xác của hai vợ chồng ông bà Gleese trong căn nhà của họ khi đến thăm viếng họ như mọi ngày.

Điều tra của cảnh sát cho thấy, nạn nhân Hazel bị siết cổ, còn nạn nhân Leo bị đánh mạnh bằng cây gậy vào vùng đầu rồi sau đó cũng bị siết cổ cho đến chết. Tại hiện trường, cảnh sát không tìm thấy bất cứ dấu vết gì chứng tỏ thủ phạm đã cướp của.


Cảnh sát bắt giữ Canning trước khi y định trốn sang Israel.

Cái chết của hai vợ chồng ông bà Gleese khiến cho cả thành phố Sebring yên bình bị sốc vì từ hàng chục năm nay chưa hề xảy ra vụ việc tương tự. Thế nhưng cư dân thành phố Sebring càng bị sốc hơn khi sau 16 ngày tích cực điều tra, cảnh sát đã phát hiện ra thủ phạm là viên mục sư "đáng kính" John Nelson Canning! Ông ta bị cảnh sát bắt giữ khi toan tính bỏ trốn đến Israel cùng vợ.

Chứng cứ để buộc tội Canning là một chiếc ghế mà ông Leo thường ngồi trong phòng khách và chiếc gậy của ông. Cả hai tang vật đều dính máu và được tìm thấy trong một góc kín nhà kho căn nhà của Canning. Giám định của cảnh sát cho biết đó là các vết máu của ông Leo. Ngoài ra, ngay ngày hôm sau xảy ra vụ giết người, khi gọi thẩm vấn Canning, cảnh sát chú ý đến cổ tay phải của y có vết trầy và chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Seiko mà y thường đeo đã không còn.

Canning khai đánh rơi chiếc đồng hồ trong một lần phát dọn cây cối xung quanh nhà thờ. Ngay sau khi Canning bị bắt giữ, cảnh sát đã tìm thấy chiếc đồng hồ được giấu trong tủ áo quần phòng ngủ của y. Trên chiếc dây bằng da của đồng hồ còn dính ít máu khô mà khi kiểm nghiệm cho kết quả, đó là máu của nạn nhân Leo.

Mục sư hành nghề “chôm” tiền công quả

51 tuổi, sinh tại thành phố Canton thuộc bang Maine trong một gia đình ngư dân, nhưng khi lớn lên Canning lại trở thành một tay cò kinh doanh bất động sản. Năm 1980, Canning đến thành phố Townsville thuộc bang Maryland để sinh sống rồi trở thành mục sư sau hai năm làm việc tại nhà thờ chính của thành phố.

Năm 1983, Canning đứng ra quyên góp tiền để xây dựng một nhà thờ mới có tên gọi Nhà thờ của Chúa. Sau khi việc xây dựng hoàn thành, do nhiều giáo dân dọa sẽ kiện Canning vì bòn rút bớt tiền mà họ đóng góp nên cuối cùng Canning đành phải hoàn trả lại số tiền 120.000 USD.

Sau vụ việc này, Canning đến thành phố Berginlen ở bang Illinois, chiếm đoạt tiếp một số tiền của giáo dân đóng góp để xây dựng nhà thờ rồi bỏ đến thành phố Sebring vào năm 1992.

Chỉ trong vòng hai năm hành nghề mục sư tại Sebring, Canning đã chiếm được lòng tin của mọi người. Trong số đó, y đặc biệt chú ý đến bà Hazel và ông Leo, tuy lớn tuổi nhưng vẫn còn độc thân và đều có tiền của. Cảm động trước sự vun vén hạnh phúc cho hai người của Canning nên ông Leo và bà Hazel quyết định ủy quyền cho viên mục sư này quản lý tài sản của họ bao gồm nhiều bất động sản ở thành phố Miami và Orlando.

Chỉ vài tháng sau đám cưới, cặp vợ chồng già mới cưới này phát hiện Canning đã "xén" bớt 56.000 USD trong tổng số tiền 180.000 USD mà họ quyên góp cho Canning xây dựng một nhà thờ có tên Cuộc sống của Galilean. Sau đó, họ còn phát hiện Canning đã bí mật bán căn nhà của ông Leo tại thành phố Orlando để lấy 228.000 USD, bán hai cửa hiệu của bà Hazel tại thành phố Miami để lấy 174.000 USD.

Vào buổi sáng ngày 6/4/2004, tưởng hai vợ chồng ông Leo và bà Hazel chưa biết đến chuyện mình chiếm đoạt tiền của họ nên Canning đến thăm viếng như thường lệ. Tại đây đã xảy ra một trận cãi vã dữ dội giữa hai vợ chồng ông bà Gleese và Canning. Bà Hazel dọa sẽ tố cáo sự việc với cảnh sát nên Canning liền xông vào bóp cổ bà cho đến chết.

Sau đó y quay sang lấy chiếc gậy mà ông Leo thường sử dụng, quật tới tấp vào đầu ông này rồi sau đó siết cổ nạn nhân cho đến chết. Trong khi chống đỡ, tay của ông Leo bị chảy máu, đã cấu mạnh vào tay phải của Canning làm chiếc đồng hồ của y đứt dây rơi xuống đất.

Vào ngày 12/10/2004, tại thành phố Sebring, viên mục sư John Nelson Canning đã phải nhận bản án tử hình vì tội chiếm đoạt tài sản rồi giết hại đến hai mạng người


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

18 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:02 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Tổ chức “đám cưới Hoàng gia” giả mạo để câu tiền



Nhật Bản đã từng mở phiên tòa xét xử Kitano và Harumi Sakamoto - hai thủ phạm trong một vụ lừa đảo: Tổ chức một "đám cưới hoàng gia" vào tháng 4/2003, để thu tiền của 400 vị khách - chủ yếu là quý tộc, diễn viên và ngôi sao truyền hình.

Tại lễ cưới này, “Hoàng thân Arisugawa” cùng với cô dâu của mình xuất hiện trước các vị khách trong bộ trang phục dân tộc cổ truyền, trước khi thay đồ để trở thành một vị tướng danh dự với thanh kiếm lễ nghi đeo bên hông, còn cô dâu trong một bộ váy cưới lộng lẫy. Tiếp đó, diễn viên nổi tiếng Junichi Ishida lên phát biểu chúc mừng cặp vợ chồng thuộc dòng dõi hoàng gia này.

Lẽ ra các vị khách phải tỉnh táo hơn, sau khi họ được yêu cầu nộp một khoản tiền 185 bảng Anh để có thể tham gia vào các buổi lễ diễn ra trong một câu lạc bộ tư nhân, nằm ngay bên cạnh Đại sứ quán Canada và cung điện Akasaka của hoàng gia. Đó là còn chưa kể đến khoản tiền bổ sung 50 bảng Anh (theo một số nguồn tin còn nhiều hơn) để có thể được quyền chụp hình với cặp vợ chồng "danh giá".

Cũng không một ai nhận ra điều bất thường: Trong buổi lễ này lại không có bất cứ một thành viên nào trong hoàng gia hiện diện, trong khi các món ăn trên bàn tiệc đều rất “bình dân”. Thay thế cho những món quà hậu hĩnh thường được trao tặng cho các quí khách theo truyền thống của hoàng gia, tất cả chỉ nhận được những chiếc đĩa kim loại nhỏ có khắc biểu tượng của Arisugawa.


Sự kính trọng của người dân Nhật đối với Hoàng gia đã bị lạm dụng để lừa đảo.

Phải đến 6 tháng sau, khi cảnh sát bắt giữ được 3 kẻ đã tham gia tổ chức “đám cưới” trên, tất cả các vị khách mới vỡ lẽ là mình đã bị lừa. Câu chuyện khó tin về vụ lừa đảo này vừa mới được đặt dấu chấm hết vào cuối tháng 11 vừa qua.

Tòa án Tokyo đã kết án thủ phạm Shinya Kusanagi, 43 tuổi, kẻ đã tổ chức ra vụ lừa đảo táo bạo trên, 18 tháng tù vì tội chiếm đoạt trái phép 13 triệu yên Nhật (khoảng 67.000 bảng Anh) từ các vị khách cả tin - những người đã mang tới không ít tiền bạc và tặng phẩm đắt tiền để bày tỏ lòng biết ơn vì đã được "ban phát" niềm vinh hạnh được tham dự “đám cưới Hoàng gia”.

Trong vở kịch trên, “ông hoàng Arisugawa” thực ra là Yasuyuki Kitano, 42 tuổi, kẻ thường tự giới thiệu mình là một thành viên hoàng gia từ hơn 10 năm trước. Trên thực tế, chi nhánh Arisugawa của hoàng gia Nhật đã tuyệt tự từ khoảng 80 năm về trước. Bản thân cuộc hôn nhân của Kitano cũng là giả mạo vì không được đăng ký một cách hợp pháp.

Phần lớn những vị khách tham dự hôn lễ đó đều cảm thấy rất “vinh dự” mà không nghĩ kỹ về nguyên nhân, vì sao họ lại được mời tới một buổi lễ sang trọng như vậy của hoàng gia. Đó chính là điểm yếu để những tên lừa đảo có thể lợi dụng. Như diễn viên hài trên truyền hình Espa Ito đã nói, anh ta rất hài lòng với lời mời đầy vinh dự trên. “Đối với một người xuất thân ở quê như tôi, việc trở thành khách mời của một đám cưới hoàng gia có ý nghĩa rất nhiều” - Ito tâm sự như vậy.

Các điều tra viên cho biết, họ chỉ có thể xác định được khoảng 150 người trong số 400 vị khách tham dự đám cưới, do phần lớn những người bị lừa đều hết sức ngượng ngùng khi phải công khai kể lại câu chuyện trên.

Trong phiên tòa, kẻ chủ mưu Kusanagi bị buộc tội tổ chức đám cưới để lừa đảo, mặc dù biết chắc Kitano không phải là một thành viên hoàng gia. Hơn nữa, hắn còn lợi dụng sự kính trọng của người dân đối với hoàng gia để lấy tiền của họ. Việc xét xử Kitano và “cô dâu” Harumi Sakamoto - thật ra là một phụ nữ đã ly hôn và có hai con - vẫn đang được tiến hành.

Được biết là nhờ việc tự xưng là “hoàng thân Arisugawa”, Kitano còn được nhận làm vị khách danh dự của Tổ chức Hòa bình Hiroshima và tham gia vào việc thu thập tiền cho quỹ từ thiện vì trẻ em của đền thờ nổi tiếng Amatakagahara tại Miyazaki, phía tây Nhật Bản. Tên tội phạm này còn sử dụng tên của ngôi đền cũng như biểu tượng của Nhật hoàng để bán một loại nước khoáng giả mạo


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

19 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:02 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Nga: Băng tội phạm là cựu cảnh sát



Cục điều tra tội phạm cướp bóc và sát nhân thuộc Viện Công tố Moskva từng hoàn chỉnh một cáo trạng khổng lồ gồm 28 tập về một nhóm tội phạm gồm toàn... cảnh sát khu vực với rất nhiều tội danh giết người cướp tài sản.

Đứng đầu nhóm tội phạm này Aleksandr Astapov, một cựu nhân viên của Cơ quan Thanh tra giao thông đã từng ngồi tù vì tội ăn cắp xe hơi. Bị sa thải, hắn chuyển sang nghề bán kẹo. Các thành viên của băng nhóm này làm quen nhau qua những người họ hàng - hầu hết đều sống ở vùng đông bắc thủ đô Moskva.

Ví dụ như Evgheny Bereznoy, một cựu quân nhân lấy chị vợ của Astapov là Yulia Bereznaia (từng có tiền án) và cả hai cùng tham gia băng tội phạm. Trong nhóm có một nữ tặc là Oksana Volkova, 32 tuổi, có chồng là Andrey Volkov. Hai vợ chồng nữ tặc cũng đã từng ra tòa. Nhưng đáng chú ý nhất là một loạt các cảnh sát khu vực thuộc các Sở Nội vụ ở Moskva như Sergey Babarykin, Evgheny Zbanov và Victor Baranov...

Astapov rơi vào tầm ngắm của Cục Điều tra Moskva (MUR) từ tháng 9/1999. Một cuộc khám xét bí mật từ phía cảnh sát đã phát hiện trong nhà của Astapov là cả một kho vũ khí: từ súng lục "Macarov", “Taurus” của Brazil, súng rulô “Nagan”, súng cácbin “Saiga-410K”, súng trường hai nòng, súng săn “Iz-27”... cùng rất nhiều các loại đạn dược khác nhau. Astapov bị bắt giữ ngay sau đó vì tội tàng trữ vũ khí trái phép.

Nhưng cảnh sát lại quan tâm đến vấn đề khác: Họ phát hiện thấy vô số giấy tờ về việc mua bán nhiều căn hộ tại Moskva. Astapov luôn lưu giữ đến hai bản giấy tờ gốc, thông thường một bản dành cho người bán, còn một dành cho người mua.

Các nhân viên điều tra đã gặp rất nhiều khó khăn khi đi sâu tìm hiểu nhóm tội phạm này. Nguyên nhân chủ yếu là có rất nhiều nhân viên cảnh sát đương nhiệm dính líu vào, dù ở mức độ này hay mức độ khác. Các kết quả ban đầu cho thấy, chỉ trong vài năm, nhóm của Astapov đã chiếm đoạt được khoảng 100 căn hộ với tổng trị giá không dưới nửa triệu USD.

Giết người già, cướp nhà

Cảnh sát khu vực Evgheny Zbanov sau khi làm quen với Astapov đã được hứa hẹn sẽ tạo điều kiện kiếm tiền một cách “trong sạch”. Anh ta chỉ đơn giản là lên danh sách những chủ nhà sống độc thân đang muốn tìm người để cho thuê nhà. Astapov cho biết là “đặc biệt” muốn giúp đỡ những người già độc thân nghiện rượu hay bị những triệu chứng lệch lạc về tâm lý.

Dần dần, Zbanov hiểu ra mọi việc, nhưng cũng đồng nghĩa với việc anh ta không thể rút chân ra nữa. Băng tội phạm này tìm cách tiếp cận những chủ nhà độc thân, giết hại họ và sau đó dùng giấy tờ chiếm đoạt ngôi nhà.

Sau đó, các cảnh sát khu vực như Zbanov đã đóng vai trò “tích cực và chủ động hơn”. Như trường hợp của cụ bà Pozarnova ở phố Novgorod, vốn là một phụ nữ độc thân có những triệu chứng tâm thần. Bà cụ luôn đóng cửa và không cho bất cứ ai vào nhà, kể cả người thân.

Hai cảnh sát khu vực Zbanov và Baranov được cử tới. Phải nhờ một người ở tầng 1 thuyết phục rằng, đây là những cảnh sát khu vực đang muốn giúp đưa bà tới bệnh viện chữa trị. Sau khi đưa nạn nhân lên xe, Astapov và đồng bọn đã bắn chết bà cụ ngay trong đó. Thi thể của bà, chúng cho vào một cái bao đem chôn trong rừng.

Ngay hôm sau, bọn chúng đến nhà của nạn nhân, lấy đi tất cả những giấy tờ cần thiết. Ít lâu sau, giấy tờ nhà của bà Pozarnova được dán ảnh một người khác và được làm thủ tục tư hữu hóa trước khi được bán.

Zbanov và Baranov còn tìm cho Astapov một chủ nhân của căn hộ hai phòng khác có tên là Gardin. Khi cả hai cùng với một đồng bọn tên là Manzov tới gõ cửa, chủ nhà đã mở cửa vì biết hai cảnh sát khu vực này. Dù là người rất hay uống rượu, nhưng Gardin có thể lực rất tốt do vẫn thường xuyên luyện tập thể thao. Bọn tội phạm đã phải chuốc cho ông uống thật say trước khi đưa lên xe. Chính Zbanov đã bắn nạn nhân chết và đem chôn gần “ngôi mộ” của bà Pozarnova.

Trong thời gian bị điều tra, Zbanov đã thừa nhận tất cả. Cụ thể như trong năm 1998, hắn đã chỉ điểm cho Astapov hai địa chỉ, khiến cho hai chủ nhà nhanh chóng bị sát hại. Chỉ với giá 500 USD, một cảnh sát khu vực khác là Martynovich đã trao cho Astapov địa chỉ của hai chị em gái sống trong một căn hộ ở đường Abramsev, và sau đó cả hai đều chết. Căn hộ này nhanh chóng bị chiếm đoạt bằng các trò giấy tờ gian lận.

Bọn Astapov không tha cả những kẻ từng "hợp tác" với chúng. Cụ thể như trường hợp của bà Larisa Ivanova, đã có lần cung cấp những địa chỉ của một vài người già sống độc thân để bọn chúng đưa đi “điều trị”. Bà ta cũng bị chúng thắt cổ chết. Căn hộ của bà ta được bán sau khi đứng tên dì của vợ Astapov.

Tuy nhiên, một số nạn nhân quá già yếu vẫn được bọn tội phạm “khoan hồng” sau khi đưa họ đến một nơi hẻo lánh nào đó


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

20 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:03 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Thuê người sát hại mình



Tòa án tỉnh Rostov của Nga vừa tuyên phạt Christina 5 năm tù và Marta là 4 năm rưỡi. Hai cô bé mới 14 tuổi này đã phạm tội sát hại một bệnh nhân bại liệt theo... yêu cầu của bà ta.

Trong vụ án hy hữu trên, hai thủ phạm nhỏ tuổi - Marta và Christina - cùng sống với gia đình nạn nhân trong một tòa nhà 5 tầng, bên cạnh đó có một ngôi chợ bán đồ lặt vặt. Nạn nhân Natalia Baranikova - trước đó là một phụ nữ trẻ, vui tính và giàu nghị lực - thường bán quần áo lót tại đây.

Ngày 24/2/2004, chiếc xe ôtô mà bà ngồi trên đó để tới Rostov đã gặp một tai nạn thảm khốc. Tài xế chết ngay tại chỗ, còn Baranikova mãi đến tháng 5 mới được đưa về nhà trong tình trạng... liệt toàn thân do chấn thương cột sống. Từ đó trở đi, bà chỉ còn biết nằm bất động trên giường, bất kỳ việc gì cũng phải có người thân giúp đỡ.

Một lần, vào buổi sáng, cô con gái 8 tuổi của nạn nhân chạy lên gọi Marta xuống gặp mẹ mình. “Cô có một yêu cầu đối với cháu - Baranikova bắt đầu câu chuyện một cách thận trọng - Cô không thể sống thêm như thế này được nữa. Mỗi khi nghe thấy những tiếng cười ngoài đường phố là nước mắt cô lại trào ra. Cô không muốn hành hạ chồng và con gái mình nữa”.

Marta khi đó chỉ biết ngồi và khóc cùng với người hàng xóm bất hạnh. Lần đầu tiên, khi bà Baranikova đề cập đến việc giúp đỡ cho bà được chết, Marta đã rất sợ hãi. “Cháu thậm chí còn không muốn ghé tới chỗ cô ấy nữa” - Marta đã kể như vậy trong phiên tòa. Nhưng dần dần, cô bé đã quen với những lời đề nghị tương tự như - mua thuốc độc cho chó tại trung tâm thú y hay mua thuốc diệt gián.

Dù sao, Marta đã không dám cho nạn nhân uống những loại thuốc độc trên theo yêu cầu của bà. Tiếp đó, bà Baranikova còn đề nghị Marta tìm thuê một người có thể tới giết mình với giá 5.000 rúp, nhưng tất nhiên là cô bé mới 14 tuổi này khó có thể tìm ra.

Nhưng rồi sau nhiều lần được đề nghị, Marta quyết định cùng với cô bạn thân Christina “giúp đỡ” người hàng xóm. Chọn đúng ngày chồng Baranikova đi công tác vắng, cô con gái đi dạo chơi, Marta và Christina đến chỗ bệnh nhân mang theo một chiếc xơlanh. Hai đứa định dùng kim tiêm để bơm không khí vào ven bà Baranikova nhưng không đạt kết quả.

Hai cô bé quyết định dùng dây siết cổ cho đến khi bà Baranikova tắt thở. Sau khi hoàn thành công việc, theo sự chỉ dẫn trước đó của nạn nhân, Marta và Christina cùng lục tủ lấy ra một chiếc hộp nhỏ có 11 món đồ trang sức bằng vàng mà nạn nhân đã hứa trả tiền công cho việc giết mình.

Sau đó, cả hai cùng lên tầng trên, ngồi chờ cho đến khi con gái bà Baranikova trở về, phát hiện ra mẹ mình đã chết, báo cho mọi người biết. Christina thậm chí còn “giúp đỡ” gọi xe cấp cứu. Đến ngày hôm sau, hai thủ phạm cùng nhau mang số đồ trang sức bằng vàng trên ra hiệu cầm đồ để lấy 4.500 rúp chia nhau.

Tuy nhiên, các bác sĩ đã nhanh chóng xác định ra nguyên nhân thực sự của cái chết nên chỉ vài ngày sau, cả hai cô gái đã bị bắt giữ. Cuộc điều tra không phải kéo dài vì Christina và Marta đã nhanh chóng thừa nhận tất cả.

Vụ án này cũng đã gây lên một làn sóng tranh luận xung quanh việc Nga có nên cho phép về cái gọi là “cái chết nhân đạo” đối với các bệnh nhân phải chịu nhiều đau khổ vì bệnh tật mà không có cơ hội chữa khỏi hay không.

Trên thế giới hiện nay, luật “cái chết nhân đạo” đã được cho phép áp dụng tại Hà Lan, Bỉ và bang Oregon (Mỹ). Mới đây tại Pháp, chính phủ cũng đã nới rộng hơn lĩnh vực này khi cho phép áp dụng “cái chết nhân đạo thụ động”, có nghĩa là ngừng chạy chữa cho bệnh nhân, nhưng không có hành động kết thúc mạng sống.

Tại Đức và Thụy Sĩ, “cái chết nhân đạo” về nguyên tắc là bị cấm, nhưng nếu một người giúp người khác tự vẫn không vì quyền lợi riêng, anh ta sẽ không bị xét xử. Chính sự thông thoáng về pháp luật như vậy đã tạo ra một xu hướng du lịch mới: người dân nhiều nước châu Âu đã đưa những người thân bị bệnh nặng của mình tới các bệnh viện Thụy Sĩ để họ có thể “chết nhẹ nhàng”


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

21 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:04 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Săn tìm “kho báu” của tướng cướp Ấn Độ



Sau 20 năm mất ăn mất ngủ vì Koose Muniswamy Veerappan, cuối cùng, Cơ quan An ninh Ấn Độ đã bắn hạ được tên tướng cướp “lừng danh” trong một cuộc chạm súng dữ dội tại làng Paparapatti, thuộc vùng Dharmapuri vào tháng 10/2004. Tuy nhiên, cái chết của Veerappan lại phát sinh một nỗi lo khác đối với các cơ quan luật pháp.

Theo những lời đồn đại loan truyền rộng rãi, khi còn sống, Veerappan có trong tay hàng trăm triệu rupi do cướp được hoặc nhận tiền chuộc của thân nhân những người bị bắt cóc giao nộp. Hắn đã cất giấu khoản tiền khổng lồ đó cùng nhiều của quý khác như ngà voi, trầm hương... tại nhiều chỗ trong khu rừng nơi hắn lẩn trốn.

Tin đồn này đã tạo nên “làn sóng” người đổ vào khu rừng rộng 6.000 km2 với hy vọng tìm ra những nơi cất giấu tài sản của Veerappan. Tình hình ngày càng phức tạp khiến cho Cơ quan cảnh sát bang Karnakata phải tuyên bố, sẽ theo dõi sát sao cuộc săn tìm kho tàng và dọa sẽ tịch thu bất cứ món gì có được từ những hoạt động tự phát đang diễn ra.

Vợ tướng cướp Veerappan tiết lộ với phóng viên Đài BBC, Cơ quan cảnh sát đã phong tỏa tất cả tài khoản của hắn tại ngân hàng, đồng thời tịch thu cả những món tiền hắn đã gửi cho chị.

Lời khai này không được chính quyền Ấn Độ xác nhận. Riêng vụ bắt cóc diễn viên điện ảnh Rajkumar, có tin là gia đình anh đã phải trả cho Veerappan một khoản tiền chuộc lên tới 300 triệu rupi, tương đương 6,5 triệu USD, nhưng Rajkumar và gia đình anh phủ nhận điều này.

Veerappan từng nhúng tay vào hơn 100 vụ giết người, trong đó có một nạn nhân là bộ trưởng của chính quyền bang sở tại. Veerappan thường dùng hình thức bắt cóc để tống tiền, diễn viên điện ảnh nổi tiếng Rajkumar cũng đã bị hắn giam giữ suốt 108 ngày.

Các cuộc hành quân truy tìm Veerappan trong rừng sâu được tổ chức một cách quy mô từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, nhưng đều không gặt hái được kết quả, vì hắn lẩn trốn rất tài và có những lối hành xử rất tàn bạo, sẵn sàng sát hại bất cứ ai cung cấp thông tin về hắn cho chính quyền Ấn Độ.

Hiện nay, cư dân trong vùng Dharmapuri cũng như nhiều nơi khác ở Ấn Độ, và cả cảnh sát vẫn rất lo sợ. Cho dù Veerappan đã chết, nhưng đồng bọn của hắn vẫn còn hoạt động, và chúng có thể trả thù cho chủ nhân bất cứ lúc nào


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

22 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:04 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Kẻ sát nhân lạnh lùng ở Adelaide



Trong thời gian ngắn, 3 cô gái bị giết với cùng một thủ đoạn và thủ phạm không hề để lại dấu vết, rửa hết vết máu, không cướp tài sản, không lạm dụng tình dục. Cả thành phố Adelaide bất bình và lo sợ.

Vào chiều Chủ nhật 11/4/1999, tại thành phố Adelaide thuộc bang Nam Australia, thi thể của Janine Balding, một nữ nhân viên ngân hàng, 22 tuổi, được bà Beverly Balding, mẹ của nạn nhân phát hiện xác con gái mình nằm trong phòng ngủ sau khi trở về từ nhà một người bạn thân.

Nạn nhân đã bị đâm nhiều nhát dao vào mặt và cổ. Đáng lưu ý tại hiện trường là máu được chùi sạch trên thi thể nạn nhân, còn những chiếc khăn lông thấm máu và bộ đồ ngủ của nạn nhân được ném vào bồn nước trong phòng tắm.

Tiền bạc, nữ trang của nạn nhân không bị mất mát gì cả, cũng không có dấu vết bị xâm hại tình dục.

Cảnh sát bước đầu nhận định: đây chỉ đơn thuần là một vụ giết người lạnh lùng, không có động cơ rõ ràng. Thủ phạm phải là một tên khôn ngoan, lọc lõi. Tuy nhiên, có hai nhân chứng - một người hàng xóm và một tài xế taxi - khai báo với cảnh sát rằng, họ thấy một thanh niên để tóc dài, mặc áo thun màu trắng, quần đen bước vào căn nhà của gia đình Balding rồi bỏ đi sau đó vài giờ.

Trong khi cảnh sát thành phố Adelaide còn đang tập trung điều tra vụ án mạng, thì vào ngày 5/7/1999, người ta lại phát hiện xác của một phụ nữ 30 tuổi tên là Virginia Morse nằm chết trong bồn tắm tại căn hộ của mình ở phía tây thành phố. Trên tường phòng tắm, một dòng chữ được viết bằng son môi màu đỏ: “Hãy tin là sẽ còn những vụ như thế này nữa”.

Nạn nhân cũng bị đâm nhiều nhát dao vào đầu và cổ, xác cũng được lau sạch máu và thân thể không bị xâm hại tình dục. Đây đúng là kiểu cách mà tên tội phạm đã ra tay với nạn nhân Janine Balding trước đó vài tháng. Có điều là lần này, tên sát nhân vẫn để lại một dấu khá mờ của một ngón tay trên góc trái cánh cửa phòng tắm của nạn nhân.

Lập tức, Cảnh sát thành phố Adelaide phối hợp với Cảnh sát bang Nam Australia sàng lọc và phân loại hơn 1 triệu dấu vân tay lưu trong ngân hàng dữ liệu để tìm ra sự tương thích nhưng vẫn không có kết quả.

Ngày 9/12/1999, Anita Cobby, một nữ y tá 21 tuổi, làm việc tại một bệnh viện ở Adalaide bị mất tích. Cho dù cố gắng tìm kiếm, cảnh sát vẫn không phát hiện ra dấu vết của cô y tá này.

Chiều ngày 12/12, một người câu cá phát hiện ra xác một phụ nữ nằm trong một đám cỏ lau sát bờ sông Lachlan chảy ngang qua thành phố Adelaide. Cảnh sát xác định đó chính là Anita Cobby.

Lần này, cảnh sát còn phát hiện ra dấu vết của bụi gỗ trên bàn chân và chân tóc của nạn nhân. Nhận định của cảnh sát là nạn nhân đã bị bắt cóc đem đến giam giữ tại một xưởng chế biến gỗ, rồi bị giết. Tên sát nhân đã đưa xác nạn nhân ra vất ở bờ sông để đánh lạc hướng điều tra của cảnh sát.

Sáng hôm sau, cảnh sát huy động toàn bộ lực lượng để lục soát các xưởng chế biến gỗ nằm ở ngoại ô thành phố. Tại một nhà kho bỏ hoang của một xưởng chế biến gỗ ở khu North Ryde, cảnh sát phát hiện ra một chiếc khăn tay, được xác nhận là của Anita Cobby cùng một sợi dây điện nhỏ mà họ cho rằng tên sát nhân đã sử dụng để siết cổ nạn nhân.

Trên sàn nhà đầy mạt cưa và bụi gỗ, cảnh sát tìm thấy nhiều dấu giày, mà khi được so sánh cho kết quả đúng là dấu giày của nạn nhân và dấu giày của một người khác.

Qua nhiều cuộc thẩm vấn hàng trăm công nhân, kiểm tra giờ giấc sinh hoạt và loại giày mà họ mang khi làm việc, cảnh sát vẫn không xác định được thủ phạm.

Cuối cùng, việc tóm được thủ phạm lại xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên khi một kẻ lạ mặt toan tính đột nhập vào một ngôi nhà trên đường Byron đã bị cảnh sát tuần tra bắt giữ vào ngày 20/12/1999.

Gã thanh niên 31 tuổi này khai tên là Stephen Jamieson, có gương mặt dữ dằn và lạnh lùng. Hồ sơ của cảnh sát cho biết, Jamieson từng bị bắt vào năm 13 tuổi khi hắn mang trong người một khẩu súng ngắn. Jamieson, sau đó, còn dính dáng đến các vụ ăn trộm, hành hung người và cả toan tính giết người.

Đôi giày của hắn ta mang được trao cho cơ quan giám định khoa học hình sự. Ngoài việc phát hiện dấu giày của Jamieson trùng khớp với những dấu giày lạ tại nhà kho chứa gỗ bỏ hoang ở khu North Ryde (nơi Anita Cobby bị giết) thì những bụi gỗ được tìm thấy bám dưới đế giày của hắn ta cũng khớp với loại bụi gỗ tìm thấy trên bàn chân và chân tóc của Anita Cobby.

Bị thẩm vấn suốt hai ngày liền, Jamieson khai nhận có tham gia vụ bắt cóc rồi giết hại Anita Cobby nhưng khẳng định hắn ta chỉ là đồng phạm, còn thủ phạm là một tên đàn anh của hắn tên là Goerges Murran. Jamieson miêu tả Murran tỉ mỉ đến nỗi cảnh sát tin là hắn ta nói thật nên liền triển khai lực lượng truy tìm Murran.

Nhưng cho dù có nỗ lực truy tìm, cảnh sát vẫn bặt tin Murran. Cho rằng đây là một trò trốn tội của Jamieson nên cảnh sát dọa sẽ sử dụng máy phát hiện nói dối để kiểm tra các lời khai của hắn ta. Sau một ngày suy nghĩ, cuối cùng Jamieson không những thú nhận đã bắt cóc rồi giết chết Anita Cobby mà chính hắn còn ra tay giết hại cả Janine Balding và Virginia Morse.

Ngày 17/8/2000, Stephen Jamieson bị kết tội sát nhân và phải lãnh mức án tù chung thân. Trong thời gian thi hành án tại nhà tù Dubbown ở thành phố Adelaide, Jamieson hay gây gổ, đánh nhau với những ai gọi hắn ta là tên sát nhân mang gương mặt quỷ. Cho đến khi bác sĩ chẩn đoán hắn ta mắc chứng bệnh thần kinh vào tháng 10/2001 nên hắn được đưa vào quản thúc tại một bệnh viện tâm thần


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

23 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:05 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Những vụ cướp liều lĩnh nhất trong lịch sử các nước


Ngày 25/2/2005, hai gã đàn ông mặc đồ công nhân lái chiếc xe của KLM đột nhập vào sân bay Schiphol ở Amsterdam. Bọn chúng chặn chiếc xe tải chở kim cương đang trên đường đến chiếc máy bay Tulip Air sắp bay đi Antwerp, dùng súng ngắn khống chế hai tài xế xe tải, rồi ung dung lái chiếc xe đi. Theo ước tính, trị giá số kim cương khoảng 75 triệu euro, và nếu đúng như thế thì đây là vụ cướp kim cương quy mô chưa từng có.

Vụ cướp Ngân hàng miền Bắc Belfast, Anh

Ngày 19/12/2004, một nhóm đàn ông giả trang cảnh sát đồng loạt đột nhập vào nhà của hai viên chức ngân hàng miền Bắc Belfast là Chris Ward ở Poleglass và Kevin McMullen ở Loughin Island, bắt cóc họ và gia đình. Sau đó bọn chúng ra lệnh cho McMullen và Ward phải làm theo chỉ dẫn của chúng. Ngày hôm sau, hai viên chức ngân hàng làm việc bình thường như không có chuyện gì xảy ra. Đến cuối ngày, sau khi mọi người ra về hết, McMullen và Ward mở cửa cho bọn cướp đột nhập vào ngân hàng, vơ vét tất cả tiền mặt và ngân phiếu. Số tiền bị cướp lên đến 50 triệu USD, và vụ cướp liều lĩnh này được coi là lớn nhất trong lịch sử nước Anh.

6 giờ sau khi ngân hàng bị cướp, cảnh sát mới nhận được hung tin. Một cuộc điều tra lập tức được tiến hành. Người ta cho rằng IRA dính líu đến vụ cướp liều lĩnh này, vì tổ chức này nổi tiếng với nhiều vụ cướp ngân hàng trong quá khứ. Tuy nhiên, IRA đã bác bỏ sự buộc tội này. Tháng 2/2005, 7 kẻ tình nghi (kể cả một thành viên của đảng Sinn Fein liên kết với IRA) bị bắt giữ trong các cuộc bố ráp nhằm vào các chiến dịch rửa tiền của IRA trên khắp lãnh thổ Cộng hòa Ireland. Hơn 3 triệu USD được tịch thu trong chiến dịch. Người ta nghi ngờ số tiền này được đánh cắp ở Ngân hàng miền Bắc Belfast, nhưng lúc đó cảnh sát chưa xác định được điều này.

Vụ cướp Trung tâm kim cương Antwerp, Bỉ

Ngày 16/2/2003, vụ cướp Trung tâm kim cương Antwerp nổi tiếng của Bỉ được coi là một trong các vụ cướp lớn nhất tại quốc gia này. Bọn cướp đã lấy đi số viên ngọc trị giá 100 triệu USD cùng các giấy tờ liên quan đến đá quý. Điều lạ lùng là cho đến ngày hôm sau người ta mới hay tin về vụ cướp.

Các nhà điều tra nhận thấy ngay là cửa vào trung tâm không hề bị cạy phá. Sau khi khám nghiệm hiện trường, các nhà điều tra nhận định thủ phạm vụ cướp là người làm việc trong trung tâm. Chỉ có những người đã quen với hệ thống an ninh công nghệ cao và mạng lưới cảnh giới 24/24 giờ quanh các kho hàng mới có thể ra tay một cách dễ dàng và êm xuôi như thế.

Theo linh cảm nghề nghiệp, các nhà điều tra đã có cuộc nói chuyện riêng với Ban lãnh đạo trung tâm, cũng như chủ sở hữu của các két sắt. Những cuộc tiếp xúc riêng đó cung cấp chút ít thông tin về danh tính bọn tội phạm, đồng thời thúc đẩy các nhà điều tra tìm kiếm manh mối ở một nơi khác. Và họ chẳng phải tìm đâu xa. Chưa đầy 2 tuần sau vụ án, cảnh sát tìm thấy một dấu vết mà họ tin là liên quan đến vụ cướp. Họ tìm thấy những cái túi bị vứt bỏ trong một con rãnh cạnh con đường chính bên ngoài Antwerp, trong đó đựng mẩu bánh sandwich ăn dở, các cuộn băng camera an ninh và một số giấy tờ. Cảnh sát nhận định các băng hình và giấy tờ này xuất phát từ vụ cướp.

Sau khi xét nghiệm ADN mẩu bánh sandwich ăn dở, cảnh sát lần ra dấu vết một người tên là Leonardo Notarbartolo, 51 tuổi, một nhà buôn kim cương thuê một không gian trong Trung tâm kim cương Antwerp và từng có vài dịp lui tới các kho hàng. Mặc dù không dính líu trực tiếp đến vụ cướp, song cảnh sát tin rằng ông ta là một thành viên của băng cướp. Notarbartolo và người vợ Hà Lan của ông ta, Adriana Crudo, 48 tuổi, bị bắt giữ sau đó. Nhưng trước tòa án, cả hai vợ chồng đều một mực phủ nhận tội liên quan đến vụ cướp.

Một số người mang quốc tịch Italia, bao gồm Ferdinando Finotto, Elio D'Onorio, Pietro Tavano và Antonio Falleti, cũng bị buộc tội liên quan đến vụ cướp. Dựa vào các bằng chứng và nhân chứng, các nhà điều tra có thể hình dung được cách thức bọn cướp đột nhập vào các kho hàng ngầm mà không bị phát hiện. Bọn cướp biết cách vô hiệu hóa hệ thống báo động và đã sao chép các chìa khóa chính sau khi thuê một văn phòng trong Trung tâm dưới tên một công ty ma.

Không một viên kim cương nào được tìm thấy lại sau đó, có lẽ chúng đã được bán hoặc chôn giấu ở đâu đó. Phiên tòa xét xử đã tuyên án 10 năm tù và 10.000 euro tiền phạt đối với Notarbartolo. Đồng thời, các tên Ferdinando Finotto, Elio D'Onorio và Pietro Tavano cũng lãnh mức án 5 năm tù và số tiền phạt 5.000 euro cho mỗi tên. Còn Falleti và Crudo không bị kết án vì thiếu chứng cứ buộc tội.

Vụ cướp sân bay ở Amsterdam, Hà Lan

Ngày 25/2/2005, hai gã đàn ông mặc đồ công nhân lái chiếc xe của KLM mà chúng đánh cắp được đột nhập vào sân bay Schiphol ở Amsterdam. Bọn chúng táo tợn chặn chiếc xe tải chở số kim cương trị giá đến nhiều triệu USD đang trên đường đến chiếc máy bay Tulip Air sắp bay đi Antwerp. Bọn cướp dùng súng ngắn bắt hai tài xế xe tải nằm áp xuống đất, rồi sau đó ung dung lái chiếc xe tải đi với số tài sản vừa cướp được. Theo ước tính, trị giá số kim cương vào khoảng 75 triệu euro, và nếu đúng như thế thì đây là vụ cướp kim cương quy mô chưa từng có.

Qua điều tra, cảnh sát nhận định có sự tiếp tay từ nội bộ. Bọn cướp đã biết trước là nên “ra tay” vào giờ nào và với chiếc xe tải nào trong ngày thứ sáu! Hơn thế nữa, chúng có thể xâm nhập vùng kho hàng an ninh, một nơi yêu cầu phải có thẻ ra vào đặc biệt. Sau này, người ta phát hiện chiếc xe tải bị cướp trong một khu kỹ nghệ ở Hoofdorp, một thị trấn không xa sân bay lắm. Các nhân chứng đã nhìn thấy hai tên cướp đưa xe tải vào bãi rồi bước vào chiếc Renault màu đỏ đang chờ sẵn do tên thứ ba cầm lái. Và đến lượt chiếc Renault - bị cướp ở Amsterdam trước hôm xảy ra vụ cướp ở sân bay vài ngày - được phát hiện bị đốt cháy vào một tháng sau đó ở thị trấn Dieman.

Vụ cướp cổ vật quy mô nhất ở Hy Lạp

Sáng sớm ngày 12/4/1990, 4 tên cướp đột nhập Nhà Bảo tàng Corinth của Hy Lạp, nơi bảo tồn các cổ vật vô cùng quý giá. Bọn chúng đã lấy đi 285 món đồ giá trị khoảng 2 triệu USD, cũng như số tiền khoảng 3.000 USD trước khi chuồn đi. Trong số tài sản nghệ thuật bị đánh cắp, có các cổ vật thuộc nghệ thuật Corinth được khai quật năm 1866; một tượng đầu tráng niên bằng đá hoa ở vào thế kỷ thứ V và 14 tượng đá hoa khác; thêm 40 chiếc bình cổ Athen màu đen, 85 chiếc bình Corinth và 49 tiểu tượng bằng đất nung, cũng như các cổ vật nghệ thuật quý giá khác.

Vụ cướp táo tợn này được coi là vụ cướp cổ vật lớn nhất trong lịch sử Hy Lạp. Bước đầu, cảnh sát cho phân phát ảnh chụp các cổ vật bị đánh cướp, báo động cho các sân bay, các tòa đại sứ, lãnh sự quán và các cơ quan cảnh sát khác.

Nơi cất giấu các cổ vật cướp được nằm yên trong bí mật suốt 9 năm. Đến tháng 9/1999, một thông tin đã dẫn dắt các nhà điều tra tìm đến một nhà kho ở Miami (bang Florida) và phát hiện 12 thùng giấy đựng các cổ vật nằm lẫn lộn trong đám thùng chứa cá. Tổng cộng, 174 trong số 285 cổ vật được tìm thấy. Khám phá này đã đem đến sự phấn khởi cho đất nước Hy Lạp và thế giới nghệ thuật!

FBI cho biết chủ sở hữu của bộ sưu tập này là bà Wilma Sabala. Được biết bộ sưu tập cổ vật này đang chuẩn bị chuyển đến Nhà đấu giá Christie ở New York. Mặc dù một số món đồ đã bị bán đấu giá, nhưng nhìn chung thì phần lớn cổ vật đều được thu hồi. Tuy nhiên khoảng 7 món đồ trong bộ sưu tập vẫn còn mất tích


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

24 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:05 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Vua lừa đảo trong ngành bảo hiểm Mỹ



Theo điều tra của FBI, Martin Frankel đã cùng 3 tên đồng bọn tiến hành nhiều vụ lừa đảo tại các công ty bảo hiểm Mỹ ở 5 bang: Mississippi, Oklahoma, Tennessee, Missouri và Arkansas để chiếm đoạt 600 triệu USD, trong đó hắn được chia 1/3 tổng số tiền lừa đảo được, tức 200 triệu USD. Ngay sau khi đánh hơi thấy bị lộ, Martin Frankel đã bỏ trốn.

Ngày 5/5/1995, căn nhà của Martin Frankel ở Greenwich, bang Connecticut, Mỹ bỗng nhiên bốc cháy. Sau khi dập tắt đám cháy, cảnh sát cứu hỏa đã thu được nhiều công văn, giấy tờ (chưa cháy hết) trong hai bếp lò. Điều khiến cảnh sát điều tra chú ý là trong đống giấy tờ này có bản viết tay của thân chủ về một “kế hoạch rửa tiền và bỏ trốn”, nhưng khi đó không ai thấy bóng dáng của Martin Frankel. Ngay lập tức, cảnh sát địa phương thông báo việc này cho FBI và FBI đã phát lệnh truy nã toàn quốc đối với Martin Frankel. Sau đó lệnh này được thông báo với Interpol bởi FBI cho rằng, Martin Frankel đã bỏ trốn sang một nước nào đó với hộ chiếu giả.

Cũng theo điều tra của FBI thì Martin Frankel đã sử dụng các tài khoản ngân hàng ở châu Mỹ, vùng biển Caribe và Thụy Sĩ với những tên giả khác nhau để chuyển tiền ra khỏi nước Mỹ. Nhận được thông báo của FBI, Cảnh sát Đức đã bắt được Martin Frankel cùng tình nhân của hắn ở một khách sạn tại Hamburg, Đức (tháng 9/1999).

Tại phòng ở của Martin Frankel trong khách sạn, cảnh sát thu được một khối lượng lớn tiền mặt (khoảng 60 triệu USD), 574 viên kim cương các loại cùng 9 cuốn hộ chiếu giả (2 của Anh và 7 của Hy Lạp). Martin Frankel không ngờ mình bị phát hiện nhanh tới như vậy vì chỉ sau 4 tháng bỏ trốn hắn đã bị bắt, xét xử và sau 18 tháng ngồi bóc lịch trong nhà tù của Đức, hắn đã bị dẫn độ về Mỹ (hắn bị tòa án Đức kết án 3 năm tù về tội trốn thuế nhập khẩu kim cương).

Điều tra của FBI cho biết, Martin Frankel đã dùng toàn bộ số tiền lừa đảo được để mua sắm những biệt thự đắt tiền, đồ trang sức, ôtô đời mới, đồ dùng đắt tiền, thuê người hầu và vệ sĩ. Theo Catherine Lewis, một chuyên gia tâm lý thì lòng tham, cùng ham muốn tình dục quá mức và cuộc sống sang trọng đã biến Martin Frankel trở thành một tên tội phạm đáng sợ.

Ban đầu Martin Frankel và người tình Italia của hắn tới sống tại một khách sạn sang trọng ở Roma, nhưng sau đó, cô người tình đã bỏ đi vì không thể chịu nổi cảnh sống “nhốt trong chuồng” với Martin Frankel cả ngày và biến thành vật giải trí của hắn. Sau khi người tình bỏ đi, Martin Frankel sợ bị bán đứng nên hắn đã nhanh chóng rời khỏi Italia, tới Đức và bị bắt.

Theo lời cảnh sát Đức, ngày 27/2/2001, Martin Frankel đã bất thành trong vụ vượt ngục. Khi hắn đang cưa chấn song sắt phòng giam thì bị quản giáo phát hiện. Sở dĩ Martin Frankel làm như vậy bởi hắn rất sợ bị dẫn độ về Mỹ. Bản thân Martin Frankel đã nhiều lần đề nghị phía Đức không dẫn độ hắn về Mỹ ngay từ khi mới bị bắt, nhưng không được chấp nhận. Sau đó, Martin Frankel đã làm đơn lên Tòa án châu Âu khiếu nại về việc “dẫn độ”, nhưng không nhận được trả lời.

Tháng 12/2000, cơ quan tư pháp Mỹ và Đức đạt được thỏa thuận về việc dẫn độ Martin Frankel về Mỹ. Có thể nói buổi dẫn độ Martin Frankel từ Đức về Mỹ được chuẩn bị chu đáo giống như một trận đánh. Chiều 3/3/2001, hàng trăm cảnh sát cùng an ninh tại sân bay quốc tế Kennedy với máy bay trực thăng và 3 ôtô chở đầy cảnh sát, vũ trang tới tận răng đã được huy động để đưa Martin Frankel, kẻ lừa đảo khiến giới kinh doanh bảo hiểm Mỹ phải kinh hoàng, về trụ sở của FBI.

Martin Frankel bị tòa tuyên phạt 17 năm tù vì tội lừa đảo tài chính. Ban đầu, mức án dự kiến đối với hắn từ 150 năm đến 410 năm cùng khoản tiền phạt trị giá 6,5 triệu USD, nhưng chính các nguyên cáo đã đề nghị giảm nhẹ hình phạt bởi Martin Frankel đã hợp tác khá tốt với cơ quan điều tra và các bên hữu quan khắc phục hậu quả do hắn gây ra.

Theo giới kinh doanh bảo hiểm Mỹ, vụ lừa đảo do Martin Frankel chủ mưu là lớn nhất, gây tổn thất nặng nhất trong lịch sử bảo hiểm của Mỹ, cho tới nay vẫn chưa tính hết. Vụ án của Martin Frankel được coi là bài học đắt giá cho ngành bảo hiểm tại Mỹ.

Nhiều người đã đặt câu hỏi, tại sao Martin Frankel một kẻ từng bị cấm kinh doanh cổ phiếu suốt đời sau khi bị tình nghi nuốt không 1 triệu USD vào năm 1992 mà vẫn tiếp tục được hành nghề bảo hiểm để gây ra hậu quả lớn như vậy? Câu hỏi vẫn chưa có trả lời


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

25 Re: những vụ án nổi tiếng on Tue Aug 03, 2010 11:06 am

kid

avatar
Viện Trưởng
Viện Trưởng
CYM
Những "chuột chũi" trong lực lượng cảnh sát Ấn Độ



Cả đơn vị 152 thuộc lực lượng Cảnh sát dự bị trung ương Ấn Độ (CRPF) đóng tại Slinaga, thủ phủ vùng Kashmir do Ấn Độ kiểm soát đang chìm trong giấc ngủ bỗng bị đánh thức bởi loạt tiếng súng nổ. Hạ sĩ Samarendra Deka tay lăm lăm khẩu tiểu liên đang bắn loạn xạ vào giường ngủ của đồng đội.

Khi thấy mọi người kéo đến, Samarendra Deka liền chĩa nòng súng tấn công ra ngoài. Sau khi khuyên giải không có kết quả, để tránh tổn thất, lực lượng vệ binh của Đơn vị 152 đã áp sát, bắn hạ kẻ giết người sau một cuộc đấu súng diễn ra ngắn ngủi.

Tại hiện trường đêm 27/11/2004, ngoài xác của kẻ gây án còn có 7 nhân viên CRPF xấu số bị thiệt mạng trong đó có Đại đội trưởng Đại đội 6, chỉ huy trực tiếp của Samarendra Deka. Hầu hết những nạn nhân đều là người vùng Bara Mulla Jamu Kashmir. Kẻ sát nhân Samarendra Deka (23 tuổi), được tuyển dụng vào lực lượng CRPF hơn một năm trước và từng có nhiều thành tích nổi bật.

Sau khi vụ việc xảy ra, CRPF lập tức thành lập tổ điều tra nguyên nhân và kết luận, Samarendra Deka mắc bệnh tâm thần và gây ra vụ thảm sát trong tình trạng mất điều khiển tâm lý. Đồng đội của Samarendra Deka ở Đại đội 6 cho biết, trước thời điểm xảy ra vụ án 3 ngày, Samarendra Deka bị phát hiện vắng mặt trong một buổi điểm danh thường lệ và đã bị cấp trên phạt lao động công ích 3 ngày. Mọi người cho rằng, rất có thể do bất mãn với hình phạt nên trong phút mất bình tĩnh, Samarendra Deka đã gây ra tội ác nghiêm trọng.

Tổ chức khủng bố ULFA lộ diện

Tưởng như sự việc kết thúc tại đó nhưng ngày 15/12/2004, trên tờ India Express, Paresh Barua, thủ lĩnh tổ chức khủng bố cực đoan Mặt trận thống nhất Asamu (ULFA) cho biết, Samarendra Deka chính là một điệp viên của ULFA cài cắm trong đơn vị cảnh sát quốc gia để thực hiện một vụ tấn công cảm tử.

Sau “chiến công” này, Samarendra Deka đã được ULFA truy phong là “liệt sĩ”. Theo Paresh Barua thì Samarendra Deka là một thành viên chính thức của Tổ chức ULFA từ năm 1996, vào tháng 4/2003 anh ta đã thâm nhập thành công vào nội bộ CRPF và trở thành một nhân viên tình báo quân sự nằm vùng của ULFA.

Paresh Barua tiết lộ, hiện nay ULFA còn có 150 “điệp viên” như Samarendra Deka đang cài cắm ở rất nhiều đơn vị an ninh quan trọng của Ấn Độ như lực lượng An ninh biên phòng (CRPS), lực lượng Tuần tra quốc gia (IBSF). Chỉ cần nhận được mệnh lệnh của Paresh Barua, các “chuột chũi” này sẽ thực hiện các vụ tấn công cảm tử vào nhân viên an ninh cảnh sát nhà nước. Paresh Barua còn phẫn nộ cho biết, họ đã “tương kế tựu kế” thành công trước kế hoạch “dùng người Asamu trị người Asamu” của chính quyền trung ương.

Các quan chức an ninh Ấn Độ đã hoàn toàn phủ nhận những lời phát biểu trên của Paresh Barua và cho rằng, đây là một tin đồn bịa đặt nhằm làm mất uy tín của cơ quan cảnh sát vì kết luận điều tra của Cơ quan CRPF cho thấy, trước khi nổ súng bắn vào đồng đội, Samarendra Deka đã có những biểu hiện của bệnh tâm thần. Hơn nữa, việc tuyển chọn nhân viên rất kỹ càng, chỉ có những người lý lịch trong sạch mới được phép trở thành nhân viên CRPF.

Tuy nhiên, theo tờ India Express, lãnh đạo CRPF đang nghiêm túc xem xét kỹ nội vụ sự kiện này. Có nhiều dấu hiệu cho thấy lời tuyên bố của Paresh Barua là có căn cứ vì đã xảy ra hai vụ tương tự trong nội bộ CRPF vào các năm 1999 và 2001. Để đề phòng bất trắc, tất cả các đơn vị thuộc CRPF đã được lệnh rà soát kỹ lại tổ chức biên chế để phát hiện “chuột chũi”.

Trước đây, nhằm thực hiện kế hoạch chống ly khai, bạo động, khủng bố ở bang Asamu và vùng Jamu Kashmir, chính quyền trung ương đã “dùng người Asamu trị người Asamu”, theo đó, nhiều đơn vị an ninh, cảnh sát bang được phép tuyển chọn thanh niên địa phương vào phục vụ.

Từ năm 2000 tới nay, chỉ tính riêng CRPF đã chiêu mộ được 15.000 nhân viên là người vùng Asamu và Jamu Kashmir, trong đó đã xây dựng được 1.000 nhân viên là “nòng cốt”. Nhiều khả năng các tổ chức khủng bố và chống đối vũ trang địa phương đã lợi dụng thời cơ này, cài cắm nhân viên vào chờ thời cơ chống phá.

Asamu là một bang nằm phía đông bắc Ấn Độ, nhiều năm nay liên tục xảy ra tình trạng lộn xộn như xung đột sắc tộc, bạo lực, khủng bố. Sau khi Ấn Độ giành được độc lập, nhiều nhóm vũ trang địa phương nổi lên chống chính phủ, trong đó điển hình là nhóm ULFA và “Bodo Tiger Liberation” luôn có chủ trương đòi ly khai khỏi Ấn Độ


****************************************

học viện conan CYM
<br>
Xem lý lịch thành viên http://hv2tconan.forumvi.com

Sponsored content


CYM

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 5 trang]

Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5  Next

Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết